Thứ Ba, 25 tháng 4, 2017

Sắc hoa ban Điện Biên

Hằng năm, cứ vào mùa tháng hai, ba âm lịch, những người yêu văn hoá vùng Tây Bắc lại rục rịch chuẩn bị cho cuộc hành trình ngược về Điện Biên để gặp lại một người bạn thân thiết: Hoa ban.
Nếu đi máy bay, mất khoảng một giờ đồng hồ trên máy bay ATR là bạn đã từ Hà Nội đáp xuống sân bay Điện Biên Phủ. Nhưng những người chăm đi du lịch thường chọn hành trình đường bộ, ngược quốc lộ 6 qua Hoà Bình, Sơn La, vượt qua những địa danh lịch sử: Dốc Cun, Tuần Giáo, Cò Nòi để lên với Điện Biên. Con đường lên Tây Bắc này thuộc loại hiểm trở nhất nước ta, phải những tay lái cứng mới đủ sức chinh phục. Nhưng cảnh vật trên đường thì tuyệt đẹp. Lên đến lưng con đèo Pha Đin quanh co dài 32, nếu đúng mùa hoa, bạn đã gặp bạt ngàn sắc trắng pha tím đẹp mê hoặc của hoa ban.
Hoa ban trắng chỉ mọc nhiều quanh thành phố Điện Biên Phủ và xuôi về hướng đèo Pha Đin. Ở hướng quốc lộ 12 thông về tỉnh Lai Châu mới, lại mọc toàn hoa ban đỏ. Cây hoa ban đã gắn bó với người Thái, H'Mông trên đất Điện Biên bao đời nay. Cứ mỗi mùa hoa nở, đồng bào bắt đầu đi phát nương, và tra hạt khi hoa tàn.
Nếu lên Điện Biên vào cuối mùa hoa ban, bạn sẽ được hưởng không khí tưng bừng của ngày lễ kỷ niệm chiến thắng Điện Biên lịch sử (7/5). Lúc đó, những di tích lịch sử quanh thành phố như Đồi A1, Nghĩa trang liệt sỹ đồi A1 và Nghĩa trang đồi Độc lập, tượng đài chiến thắng Điện Biên, bảo tàng chiến thắng, hầm tướng Đờ Cát...đều nườm nượp du khách, trong đó có rất nhiều cựu chiến binh về thăm chiến trường cũ.
Ngược theo con đường "vàng" số 28, dọc theo những triền núi xanh rì cây cối và thấp thoáng cánh hoa ban, bạn sẽ về thăm khu di tích sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ, vào tham quan hầm làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng bộ tham mưu. Đã 55 năm qua, nhưng nhân dân địa phương vẫn gìn giữ nguyên vẹn cả một cánh rừng toàn cây cổ thụ, vì từ đó đến nay, rừng đã mang tên Đại tướng mà bà con vô cùng kính trọng.
Cũng không xa thành phố, bạn sẽ được bước chân trên con đường kéo pháo vào trận địa năm xưa mới được tôn tạo. Có đến đây mới hình dung nỗ lực phi thường của chiến sỹ ta năm xưa, khi bí mật kéo pháo vào, kéo ra rồi lại kéo vào để bất ngờ dội bão lửa lên đầu quân Pháp, góp phần làm nên chiến thắng "lừng lấy năm châu, chấn động đại cầu".
Muốn tìm hiểu phong tục của người Thái Trắng Điện Biên, mời bạn vào bản cùng nhảy một điệu xoè với những cô gái xinh đẹp với trang phục váy đen, áo trắng lấp loá những hàng cúc bướm, để ăn nắm xôi nếp nương thơm dẻo nổi tiếng, bẻ con cá suối nướng chấm muối trộn mắc kén thơm lừng. Để tăng cường sức khoẻ, bạn nên đi vào khu nghỉ dưỡng Hua Pe, U Va; hồ Pa Khoang, Pe Luông, Huổi Phạ tắm nước khoáng. Còn thời gian, bạn cũng nên thăm những hang động kỳ thú như Pa Thơm (Điện Biên), Thẩm Púa (Tuần Giáo). 
Nếu có cơ hội, khi trở về Hà Nội bạn nên lên xe ô tô đi dọc men triền sông Đà qua cầu Hang Tôm, theo đường 4D vòng lên Lào Cai qua đèo Hoàng Liên Sơn cheo leo vách núi. Cảnh sắc bên đường này còn này còn tươi đẹp hơn cả bên đường số 6, với những vạt rừng bạt ngàn sắc hoa ban đỏ, hoa mắc cọp. Chuyến đi của bạn sẽ trở thành lịch sử, vì không lâu nữa, khi nhà máy thuỷ điện Sơn La hoàn thành, một đoạn đường ấy sẽ nằm gọn trong lòng hồ sông Đà, như thị xã Lai Châu cũ mà bạn đi qua. 
Một lần đến đã với Điện Biên, vẻ đẹp của những cánh hoa ban cùng nụ cười xinh xắn của cô gái Thái, hương gạo Điện Biên trên cánh đồng Mường Thanh trù phú hay mùi thơm của quả mắc kén... sẽ khiến bạn nhớ mãi. Để rồi mỗi năm tháng ba về, lòng lại thấy nao nao muốn giục bước chân lên đường ngược trở về miền Tây Bắc!
Tiên Long (Tạp chí Phong cách, số 01 2010)

Thứ Năm, 13 tháng 4, 2017

Chuyện vua Nguyễn - chúa Trịnh

Chuyện vua Lê, chúa Trịnh thì mọi người biết rồi, đại loại từ khi chúa Trịnh nắm quyền, thì vua Lê chỉ là bù nhìn, thậm chí đôi khi còn là cái gai trong mắt chúa, nên thỉnh thoảng, lại có vị vua hay thái tử bị chúa lôi ra giết.

Nhưng còn vua Nguyễn với chúa Trịnh thì sao? Vẫn có chuyện ghi lại đấy nhé. Đó là chuyện chép trong Trịnh gia thế phả do trưởng họ Trịnh ở Vĩnh Lộc là Trịnh Cơ vâng lệnh vua đầu nhà Nguyễn là Gia Long, khai báo năm 1802.

Lời mở đầu cuốn gia phả họ Trịnh này viết rằng khi vua Gia Long ra Bắc (1802), ông đã cho gọi tộc trưởng họ Trịnh – Trịnh Cơ – từ xứ Thanh ra Thăng Long và phán bảo rằng: "Họ nhà ngươi và họ ta là hai họ có thâm thù vì tổ họ ngươi đã giết tổ họ ta!".

Trịnh Cơ run rẩy nghĩ rằng mình và họ mình sẽ bị Gia Long “làm cỏ sạch gốc rễ” để trả thù. Nhưng mà không!,Vua Gia Long nói tiếp: "Nhưng họ nhà ngươi và họ ta đã từng là thông gia – thân gia. Ta sẽ lấy tình thân gia mà đối đãi với họ ngươi. Song họ ta ở Nam đã quá lâu, ta chẳng biết rõ gì về họ ngươi cả. Vậy ngươi hãy cung khai về gốc gác họ Trịnh trình cho ta biết!"

Trịnh Cơ mang gia phả cũ ra tham khảo và cứ theo sự thực viết ra (cố GS Hoàng Xuân Hãn rất khen ngợi bản gia phả nhà Trịnh này là trung thực, đã viết rõ gốc gác nghèo hèn và hành xử “xấu xa” của Trịnh Kiểm như ăn cắp gà, giết trộm trâu, ăn cắp ngựa…). Đọc xong Gia phả họ Trịnh, Gia Long đã phê ban cho họ Trịnh 200 mẫu ruộng công để dựng nên Trịnh điện làm nơi thờ tự các chúa Trịnh (nay làng Trịnh Điện bên bờ sông Mã có diện tích đúng 200 mẫu, 1 mẫu Trung bộ = 5.000m2).


Thứ Năm, 6 tháng 4, 2017

Vua Hùng vào sử Việt từ khi nào?

Bộ sử đầu tiên của Việt Nam, Đại Việt Sử ký của Giáo sư Lê Văn Hưu soạn, không có chép về các đời vua Hùng, trong khi, xác định tính chính thống của triều nhà Triệu của nước Nam Việt. Ấy thế mà sử sau này bổ sung thêm các vua Hùng và muốn gỡ nhà Triệu ra khỏi sách sử.
Năm 1272 tháng Giêng, Chủ tịch Trần Hoảng ra sắc lệnh yêu cầu Viện sĩ Viện Hàn lâm KHXH Lê Văn Hưu làm Giám đốc dự án chép sử quốc gia. Giáo sư Hưu tuân lệnh, soạn quyển Đại Việt Sử ký, ghi chép từ Chủ tịch Triệu Đà đến nữ Chủ tịch Lý Thiên Hinh, gồm 30 quyển. Như vậy, quyển sử đầu tiên của nước ta đã ghi nhà Triệu vào chính sử, và lúc đó họ Hùng thì nằm ngoài sử sách.
Chủ tịch Hoảng xem bộ sử, lấy làm hài lòng, quyết định thưởng cho Giáo sư Hưu Huân chương lao động hạng nhất. 
Giáo sư Hưu sinh năm 1230, quê ở làng Thần Hậu (tục gọi Kẻ Rỵ), huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, nay thuộc xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1247 (17 tuổi), đã đỗ Tiến sĩ hạng nhì quốc gia. Đây là năm đầu tiên kỳ thi quốc gia lấy các danh hiệu Tiến sĩ hạng Nhất, Nhì, Ba, năm đó, Nguyễn Hiền, mới 12 tuổi, đỗ Tiến sĩ hạng Nhất.
Mới 17 tuổi nhưng ông Hưu vẫn được bổ nhiệm vào Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, rồi thăng lên đến Bộ trưởng Bộ quốc phòng. Thời kỳ làm Giáo sư tại Viện Hàn lâm, ông là thầy học của Thượng tướng Trần Quang Khải.
Lúc hoàn thành bộ sử, Giáo sư Hưu 42 tuổi. Ông thọ đến 92 tuổi, xứng đáng là bậc quốc sư như Giáo sư Vũ Khiêu sau này vậy.
Thời chủ tịch Lê Lợi vừa nhậm chức, sai Chánh văn phòng là Tiến sĩ Nguyễn Trãi soạn bản Tuyên ngôn độc lập, đã viết: Tự Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập, cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phen", vẫn không nhắc gì đến thời Hùng Vương và tiếp tục khẳng định nhà Triệu là khởi thủy nước Việt. Nhưng sách giáo khoa thế kỷ 20, khi giảng về bài Tuyên ngôn độc lập này, chú thích: "Ông Nguyễn Trãi nhầm nhà Triệu là của Việt Nam". Đời sau đi cãi ông đời trước cách 600 năm!
Ảnh minh họa: Ngô Sĩ Liên viết Đại Việt sử ký toàn thư.
Đến tận năm 1479, Chủ tịch Lê Hạo mới sai Tiến sĩ Ngô Sĩ Liên chỉnh sửa bổ sung lịch sử nước nhà. Ngô Sĩ Liên là người xã Ngọc Hòa, huyện Chương Mỹ, Hà Nội, tham gia kháng chiến chống quân Minh. Kháng chiến thành công, năm 1442, ở khoa thi đầu tiên có tổ chức dựng bia Tiến sĩ, ông nhận bằng tiến sĩ, rồi được bổ nhiệm vào Viện sử học, làm đến Phó Viện trưởng, rồi Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Hiệu trưởng Đại học quốc gia.
Nhận lệnh từ chủ tịch Hạo, Giáo sư Liên đã bổ sung thêm họ Hồng Bàng với 18 đời Hùng Vương vào sử Việt, đổi tên thành Đại Việt Sử ký Toàn thư (gọi tắt là Toàn thư).
30 năm sau, năm 1511, Chủ tịch Lê Trừu (tức là đồng chí Tương Dực) sai Giáo sư Vũ Quỳnh tiếp tục chỉnh lý, và đổi tên thành Đại Việt Thông Giám Thông Khảo (gọi tắt Thông giám). Vũ Quỳnh quê làng Mộ Trạch thuộc huyện Bình Giang, Hải Dương, vùng quê có rất nhiều danh nhân họ Vũ nổi tiếng. 

Ông Quỳnh lấy bằng tiến sĩ năm 1478, từng làm Bộ trưởng nhiều bộ như bộ Xây dựng, Quốc phòng, Ngoại giao, Hiệu trưởng Đại học quốc gia và Viện trưởng Viện Sử học. Bộ Đại Việt thông giám, do ông Quỳnh biên soạn, chép từ thời Hồng Bàng đến năm đầu tiên của Chủ tịch Lê Lợi, gồm 26 quyển.
Mãi 150 năm sau nữa, Chủ tịch Lê Duy Vũ (tức đồng chí Huyền Tông) lại sai Giáo sư Phạm Công Trứ tiếp tục công trình chỉnh lý, chép thêm việc nước trong 13 năm (1663-1675) của triều đại mình vào, và gọi đó là Đại Việt Sử Ký Tục Biên. Đây cũng là lần tu sửa cuối cùng của thời các chủ tịch họ Lê.
Giáo sư Trứ quê làng Liêu Xuyên, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương, nay thuộc thôn Thanh Xá, xã Nghĩa Hiệp, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, đỗ Tiến sĩ năm 1628, từng làm Chánh án Tòa án tỉnh Thanh Hóa, Thị trưởng Hà Nội, Chủ tịch Thanh Hóa, Phó Viện trưởng rồi Viện trưởng Viện sử học, sau thăng Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Thủ tướng chính phủ.

Thứ Năm, 23 tháng 3, 2017

Vị tướng của Chúa Nguyễn được trâu cứu mạng

Trong cuộc chiến Trịnh Nguyễn phân tranh, tướng Nguyễn Cửu Kiều vì được trâu cứu khỏi sự truy đuổi của quân Trịnh mà sau này đã quyết định không bao giờ ăn thịt trâu để tri ơn loài vật đã cứu mạng.


Lăng mộ Nghĩa Quận công Nguyễn Cửu Kiều ở thôn Bạch Thạch, xã Lộc Điền, Phú Lộc, Thừa Thiên-Huế. Ảnh: Gia tộc Nguyễn Cửu.
Theo sách “Đại Nam liệt truyện tiền biên” thì Nguyễn Cửu Kiều người huyện Tống Sơn (nay là Hà Trung, sử nhà Nguyễn gọi là “quý huyện”, do đây cũng là quê hương của các chúa Nguyễn), tỉnh Thanh Hóa. Cha của ông tên là Quảng, làm quan nhà Lê đến chức Điện tiền Đô kiểm điểm Quận công. Dòng dõi Nguyễn Cửu Kiều vốn được ban họ chúa (quốc tính) là Nguyễn Phúc, đến năm Minh Mạng thứ nhất (1820), để tưởng thưởng công trạng của công thần, vua ban “cho con cháu công thần quốc sơ là Nguyễn Phúc Kiều làm họ Nguyễn Cửu” (gọi là Công tính).

1. Nguyễn Cửu Kiều sinh năm 1559, được cho là “người khảng khái, có chí lớn”, ông tuy là con quan lớn nhà Lê, nhưng thấy chúa Trịnh không theo đạo làm tôi với vua Lê, bèn có tâm hướng về với chúa Nguyễn ở Nam Hà.

Nguyên lúc đó họ Trịnh đã dẹp được họ Mạc, đưa vua Lê từ vùng khởi nghĩa Thanh Hóa về lại kinh thành Thăng Long sau Trịnh Tráng được lên tước vương một chữ, là Đại nguyên soái thống quốc chính sư phụ Thanh vương (trước đó, cha Trịnh Tráng là Trịnh Tùng chỉ mới nhận tước vương hai chữ là Bình An vương, tước vương một chữ cao quý hơn tước vương hai chữ).

Chúa Trịnh lúc này quyền thế che cả bầu trời, ngang nhiên ép vua Lê Thần Tông lấy con gái mình là Trịnh Thị Ngọc Tú, vốn đã lấy bác họ của vua là Lê Duy Trụ và sinh được 4 con, vì Duy Trụ phạm tội bị bắt giam nên Trịnh Tráng mang con gái cho vua Lê. Vua Lê Thần Tông lúc này không còn quyền thế gì, đành phải ngậm ngùi nhận lời.

Năm 1623, Nguyễn Cửu Kiều từ Đông Đô (Thăng Long), nhận mật thư và bảo ấn do chính phi của chúa Trịnh Tráng là Nguyễn Thị Ngọc Tú (con gái chúa Nguyễn Hoàng) giao cho, giả là người đi chọi gà vào Nam theo chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Chúa Trịnh biết, cho người đuổi theo. Kiều đến sông Gianh, không có thuyền mà lính bên Trịnh đã đuổi theo gần đến nơi.

Trong lúc nguy cấp, Kiều bèn khấn rằng: “Sông nếu có thần thiêng thì giúp cho ta qua sông, đừng để giặc bắt”. Rồi bỗng nhiên chợt thấy có một con trâu nằm ở bờ sông, Kiều bèn cưỡi trâu sang sông. Lên đến bờ sông bên này không thấy trâu đâu nữa. Đến Quảng Bình, nhờ tướng Nguyễn là Nguyễn Hữu Dật tiến cử ra mắt chúa Nguyễn Phúc Nguyên, dâng mật thư và bảo ấn. Chúa Nguyễn mừng quá, cho Cửu Kiều làm Đội trưởng, quản thuyền Mã cơ, sau thăng làm Cai đội thuyền Trung đạo, được gả công chúa thứ ba là Ngọc Đỉnh, rồi thăng đến chức Chưởng cơ.
Từ đường họ Nguyễn Cửu ở xã Vân Dương, Hương Thủy, Thừa Thiên Huế. Ảnh: Gia tộc Nguyễn Cửu.
2. Năm1633, Kiều ra làm Trấn thủ Quảng Bình. Kiều đến trấn, rộng ban ân tín, vỗ về thương yêu quân và dân, ai cũng hài lòng. Mùa đông năm ấy, quân Trịnh đến xâm lấn, Kiều xin đóng cọc ngăn cửa biển Nhật Lệ, để chống lại. Chúa dùng kế ấy, được hơn mười ngày, quân Trịnh hơi trễ nải, quân Nguyễn đột chiến xông ra đánh dữ, quân Trịnh 
tan chạy.

Năm 1640, tướng Trịnh đã đầu hàng là Nguyễn Khắc Loát lại làm phản, quấy rối châu Nam Bố Chính. Chúa Nguyễn sai Cửu Kiều cùng Trương Phước Phấn đem quân đánh đuổi, lấy được cả đất Bắc Bố Chính. Sau đó chúa Trịnh đưa thư nói Nguyễn và Trịnh là chỗ thế nghị và đòi lại chỗ đất đã bị xâm lấn. Chúa Nguyễn mới sai trả Bắc Bố Chính cho họ Trịnh.

Mùa xuân năm 1648, chúa Trịnh đem hết quân miền Bắc vào đánh cửa biển Nhật Lệ, Cửu Kiều sai Nguyễn Triều Văn đem binh thuyền chống cự nhưng không đánh thắng được. Đàng Ngoài cậy quân nhiều, tiến đóng Võ Xá. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên sai Thế tử Nguyễn Phúc Tần đem quân đi đánh, được toàn thắng.

Năm 1655 tướng Trịnh giữ châu Bắc Bố Chính là Phạm Tất Đồng thả quân quấy rối ngoài biên, hai tướng kiệt xuất của Đàng Trong là Tiết chế Nguyễn Hữu Tiến và Đốc chiến Nguyễn Hữu Dật đem quân đi đánh, sai Xuân Sơn làm tiền phong hạ đạo, Cửu Kiều đem quân đi, cũng lệ thuộc vào đấy. Quân Nguyễn tiến đánh ra tận Hà Trung (huyện Kỳ Anh, Nghệ An), quân Trịnh thua chạy. Cửu Kiều đem thủy quân tiến đóng bờ nam sông Đàm, chiêu phủ hai huyện Kỳ Anh, Thạch Hà, quân và dân miền Bắc về hàng chúa Nguyễn ngày càng đông.

3. Mùa hè năm 1656, quân chúa Nguyễn tiến đến sông Lam, Cửu Kiều kiêm lĩnh chức Thủy sư Phó tướng cùng Tham tướng Tôn Thất Tráng đem binh thuyền thẳng đến cửa biển Đan Nha (tức cửa Hội) đánh thủy binh nhà Trịnh, phá tan được. Gặp lúc thủ lĩnh miền núi là Phù Dương đem binh miền thượng đánh quân của tướng Trịnh là Đào Quang Nhiêu. Quân Trịnh ập đến, quân Phù Dương thua. Cửu Kiều đem quân đến cố sức đánh, chém được tướng miền Bắc là Tào Nham và Diễn Thọ tại trận. Cửu Kiều cũng bị thương nặng, về Quảng Bình thì chết, thọ 
58 tuổi.

Chúa được tin, thương tiếc vô cùng, tặng phong Đặc tiến Phụ quốc thượng tướng quân, Tả quân Đô đốc phủ Tả đô đốc, Nghĩa quận công. Mộ táng tại núi Bạch, xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, Thừa Thiên - Huế. Chúa lại cho lập đền thờ ở xã Dương Xuân (khu vực Gành Đá, huyện Hương Thủy, Thừa Thiên - Huế), cấp cho 50 người coi mộ.

Đền thờ Nguyễn Cửu Kiều tại Dương Xuân bị tàn phá trong chiến tranh giữa nhà Nguyễn với Tây Sơn. Sau khi vua Gia Long lên ngôi, người cháu đời thứ 5 của Nguyễn Cửu Kiều là Nguyễn Phúc An (tước Chánh vệ úy vệ Hổ uy quân Thần sách, Khâm sai Lưu thủ Quảng Trị), vốn theo hầu vua Gia Long, đã về làng Vân Dương, Hương Thủy, quyên góp tiền bạc bà con xây dựng lại từ đường trên phần đất mới nằm trên bờ nam sông Như Ý.

Trong từ đường có treo đôi câu đối của chúa Nguyễn Phúc Chu ban tặng Võ Trung hầu Nguyễn Cửu Thế (cháu nội Cửu Kiều) năm 1709, sau khi ông giúp chúa dẹp loạn (em của Cửu Thế là Khâm Minh hầu Nguyễn Cửu Ta mưu phản):

“Vi đống vi lương, trọng trấn Nam triều lương hữu bật

Thí kim thí ngọc, nhiệm ngô quốc lão điện bàn an”

Dịch nghĩa:

“Làm cột làm rường, trọng trấn Nam triều thật là phụ bật xứng đáng

Như vàng như ngọc, khen người quốc lão giúp cho bàn thạch vững vàng”.

Năm Tự Đức thứ 2 (1849), từ đường được vua ban tặng bức hoành phi ghi 4 chữ “Nhất môn trung nghĩa” (Một nhà trung nghĩa).

Trước kia khi Nguyễn Cửu Kiều sang sông vào Nam được trâu thần giúp sức, hàm ơn mãi, suốt đời không ăn thịt trâu và dặn con cháu khi cúng tế không được dùng trâu.

Nguyễn Cửu Kiều có hai trai là Ứng và Dực. Ứng là người dũng cảm, khéo bắn súng lớn. Ban đầu làm Cai cơ, quản cơ Tả Trung kiên, làm dần đến Trấn thủ doanh Bố Chính. Khi tại chức, làm chính sự, chuộng hòa, rất có thành tích, quan và dân đều khen ngợi. Rồi được trao chức Chưởng cơ, lĩnh việc trấn như cũ. Dần thăng đến Chưởng doanh, Thống suất đạo Lưu Đồn.

Vì con của Nguyễn Cửu Ứng là Khâm chơi nghịch phạm pháp, nên Nguyễn Cửu Ứng phải tội lây, bị miễn chức. Sau đó được khởi phục lại làm Trấn thủ Quảng Bình, mộ lính lập cơ Trung Kiên, thuyền Thắng Trụ.

Năm 1705, mùa thu, Nguyễn Cửu Ứng chết, thọ 72 tuổi, được tặng Khiêm cung công thần, Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân Tả quân Đô đốc Chưởng phủ sự, Trấn Quận công. Dân xã Trung Kiên, tỉnh Quảng Bình, nhớ ơn lập đền thờ.


Bức hoành phi ghi NHẤT MÔN TRUNG NGHĨA - Tự Đức nhị niên ngự đề (1849).

“Vua Tự Đức cho rằng họ Nguyễn Cửu thời Đinh thì có ngài Nguyễn Bặc phò nhà Đinh, thời chúa Nguyễn thì có ngài Nguyễn Cửu Kiều phò Nguyễn diệt Trịnh. Nên vua ban hoành phi này cho dòng họ Nguyễn Cửu - với ý nghĩa đây là dòng họ trung trinh gia truyền hiếu nghĩa qua nhiều đời”. Sự tích trên được lưu truyền qua các thế hệ họ Nguyễn Cửu. Hoành phi này có từ lúc ông Nguyễn Cửu Trường (Tiến sĩ năm Mậu Tuất) lúc ấy đương làm quan hầu cận nhà vua trong triều.

4. Dòng họ này ngoài Cửu Ứng, còn nhiều võ tướng của các chúa Nguyễn như Nguyễn Cửu Thế (con thứ ba của Cửu Ứng), được lấy công chúa Ngọc Phượng, lúc mất được truy tặng Tán trị công thần, Đặc tiến Khai phủ phụ quốc Thượng tướng quân, Trấn thủ, Hữu quân Đô thống phủ Đô đốc Thiếu phó Trung quốc công, cho lập đền thờ ở xã Vân Dương (Hương Thủy, Thừa Thiên - Huế).

Cửu Thế có 3 con trai là Quý, Thông và Pháp. Quý làm đến Ngoại hữu Chưởng doanh, tặng phong Tá lý công thần, Tả quân Đô đốc. Thông trước làm Cai đội, giữ quân cấm vệ, dần thăng đến Nội tả Chưởng cơ, lại lên Chưởng doanh, được tặng tước Trấn phủ Kính quận công.

Ngoài ra hậu duệ họ Nguyễn Cửu còn có Cửu Quán lấy công chúa, làm đến Phò mã Cai cơ, Cửu Thống cũng được lấy công chúa, làm tướng đến chức Tiết chế, Chưởng doanh quận công, hoặc nhiều võ tướng danh tiếng khác như Cửu Điển làm đến Hữu quân Phó Tiết chế, Cửu Vân, Cửu Chiêm, Cửu Đàm, Cửu Dật...

Lê Tiên Long
(Lao động 5/2016)

Những dấu mốc đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam

Đơn vị Hải quân đầu tiên được hình thành trước ngày khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hai máy bay của vua Bảo Đại là phương tiện đầu tiên của Không quân Việt Nam.

Nhân ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944), VnExpress điểm lại một số dấu mốc đầu tiên của quân đội có thể nhiều người chưa biết.

Đơn vị hải quân Việt Nam đầu tiên

Ít người biết ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, quân đội Việt Nam đã có một bộ phận hải quân nhỏ và lập được những chiến công đầu tiên. Theo cuốn Lịch sử Hải quân Việt Nam, cuối tháng 8/1945, tại Hải Phòng, Bộ Tư lệnh khu Duyên hải đã tổ chức Ủy ban Hải quân Việt Nam với quân số gần 200, trong đó tiêu biểu là Đại đội Ký Con, phương tiện là một số tàu nhỏ và 3 canô thu được của Pháp. Các tàu nhỏ được đổi tên thành Bạch Đằng, Giao Chỉ.

Với cách đánh du kích, Đại đội Ký Con đã lập được một số chiến công ở cửa biển Hải Phòng và vùng ven biển Đông Bắc. Trận đánh đầu tiên được lịch sử hải quân Việt Nam ghi lại là đánh tàu Crayssac tại vùng biển Hòn Gai đầu tháng 9/1945.

Theo lệnh Khu trưởng chiến khu Duyên hải Nguyễn Bình (sau được phong là Trung tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam), đại đội Ký Con dùng hai tàu Bạch Đằng, Giao Chỉ và một canô, với một trung đội bộ đội phối hợp với các thuyền đánh cá của nhân dân tiến ra vây bắt tàu địch. Trước sức ép của quân dân, tàu Crayssac phải đầu hàng, chỉ huy và các thủy thủ người Pháp bị bắt làm tù binh, nhiều binh sĩ người Việt tình nguyện tham gia cách mạng.

Tàu Crayssac được trang bị một khẩu pháo 37 mm, 2 trọng liên, 2 đại liên, một bazoka, 2 súng carbin cùng một số súng trường. Ngày 8/9/1945, Khu trưởng Nguyễn Bình đã đến thăm con tàu chiến lợi phẩm, ra lệnh gỡ biển tên tàu, gắn chữ Ký Con bằng đồng vào mũi tàu, biên chế con tàu vào lực lượng vũ trang chiến khu Duyên hải (sau là chiến khu 3).

Sau đó, quân Pháp đưa tàu Audacieuse đến vùng biển Hòn Gai để tìm kiếm tàu Crayssac. Quân khu Duyên hải dùng ngay tàu Ký Con để đánh đuổi và chiếm được tàu Audacieuse, bắt 8 sĩ quan và thủy thủ, thu một đại liên, một bazoka và một số vũ khí trang bị khác. Đến ngày 12/9/1945, hai tàu Ký Con, Audacieuse cùng một số canô được tổ chức thành một thủy đội thuộc Ủy ban Hải quân Việt Nam, làm nhiệm vụ tuần tiễu vùng ven biển từ Hòn Gai đến Hải Phòng.

Đơn vị pháo binh đầu tiên

Từ những khẩu pháo thu của quân đội Pháp, đơn vị pháo binh đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập. Ngày 29/6/1946, tại sân Vệ Quốc đoàn Trung ương (trại 40 Hàng Bài), Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam Hoàng Văn Thái đọc Quyết định thành lập Đoàn pháo binh Thủ đô gồm 3 trung đội: Pháo đài Láng, Pháo đài Xuân Tảo và Pháo đài Xuân Canh (nay thuộc huyện Đông Anh). Đây chính là nền móng để xây dựng lực lượng pháo binh Việt Nam sau này.

Đến tháng 9/1946, Tổng Tham mưu trưởng quyết định thành lập thêm Trung đội Pháo đài Thổ Khối (huyện Gia Lâm), nằm bên tả ngạn sông Hồng, đồng thời thành lập Đại đội Pháo binh Thủ đô, thống nhất chỉ huy 4 trung đội pháo đài. 29/6/1946 trở thành ngày truyền thống của Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam.

Khẩu pháo 75 ly được lưu giữ tại di tích lịch sử Pháo đài Láng. Ảnh: Võ Hải.
Theo Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam, các pháo đài Láng, Xuân Tảo, Xuân Canh do quân Pháp xây dựng vào năm 1940, đặt các khẩu pháo phòng không 75 ly nhằm phòng thủ cho thành phố Hà Nội trước nguy cơ bị không quân Nhật tấn công.

Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp, các pháo đài này bị quân Nhật chiếm. Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, tất cả cơ sở quân sự ở miền Bắc được bàn giao cho quân đội Quốc dân Đảng của Tưởng Giới  Thạch. Khi quân Tưởng rút, quân và dân Việt Nam tiếp nhận pháo đài. Do thiếu pháo thủ, một số thanh niên làng Láng được gọi tăng cường, nhanh chóng làm chủ kỹ thuật.

Pháo đài Láng chính là nơi nổ phát súng đầu tiên phát hiệu lệnh toàn quốc kháng chiến lúc 20h03 ngày 19/12/1946. Ngay sau đó, các pháo đài Xuân Canh, Xuân Tảo cũng lập tức nổ súng, dùng các khẩu pháo phòng không để đổi cách bắn, rót đạn xuống các doanh trại của quân Pháp đóng trong thành cổ Hà Nội.

Sau đó 2 ngày, ngày 21/12/1946, Pháo đài Láng tiếp tục lập chiến công bằng việc bắn rơi chiếc máy bay đầu tiên của quân Pháp trong cuộc kháng chiến kéo dài tới 9 năm sau đó. Các pháo thủ pháo đài Láng đã bắn máy bay bằng cách ngắm bắn trực tiếp do không có máy ngắm. Với thành tích này, Trung đội pháo binh Pháo đài Láng đã được Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp gửi thư khen ngợi.

Đến tháng 1/1947, sau khi thành công trong việc kìm chân quân đội Pháp trong thành phố Hà Nội suốt hai tháng, các đơn vị pháo binh ở pháo đài Láng được lệnh rút lên chiến khu. Do các khẩu pháo nặng nề không thể di chuyển được, các pháo thủ đã tháo quy lát của pháo mang đi chôn giấu.

Hiện nay, một khẩu pháo 75 ly còn được lưu giữ tại di tích lịch sử Pháo đài Láng, tại con phố cùng tên ở phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội.

Máy bay đầu tiên

Dù mãi đến năm 1955, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam mới quyết định thành lập Ban Nghiên cứu sân bay, tiền thân của lực lượng không quân hiện nay, tuy nhiên từ ngay sau cách mạng tháng 8, quân đội Việt Nam đã có những chiếc máy bay đầu tiên.

Theo cuốn Lịch sử không quân nhân dân Việt Nam, đó là hai máy bay riêng của vua Bảo Đại, sau khi thoái vị đã hiến cho chính phủ lâm thời. Cả hai đều là máy bay 2 chỗ ngồi, gồm một chiếc Tiger Moth (2 tầng cánh, do Anh sản xuất) và Morane Saulnier (một tầng cánh, do Pháp sản xuất).

Hai máy bay được tháo cánh và bí mật chở bằng tàu hỏa từ Huế ra Bắc rồi chuyển về cất ở sân bay Tông (Sơn Tây) vào đầu năm 1946. Khi đó sân bay Bạch Mai và Gia Lâm đang bị quân đội Tưởng Giới Thạch chiếm giữ.

Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, hai chiếc máy bay tiếp tục được tháo rời, chuyển bằng thuyền lên Bình Ca, rồi lên Soi Đúng (Tuyên Quang). Trong quá trình vận chuyển, bị máy bay Pháp phát hiện và bắn phá, cả hai máy bay bị hư hỏng ít nhiều.

Học viên Lớp hàng không đầu tiên của quân đội Việt Nam bên chiếc máy bay Morane của vua Bảo Đại. Ảnh tư liệu.
Ngày 9/3/1949, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam, đã ra quyết định thành lập Ban Nghiên cứu Không quân thuộc Bộ Quốc phòng, sau chuyển sang Bộ Tổng Tham mưu, do ông Hà Đổng, làm Trưởng ban, với nhân sự gồm một số kỹ thuật viên và phi công là hàng binh người châu Âu.

Sau quá trình chuẩn bị đường băng là bãi trồng ngô dài 400 m, rộng 25 m tại Soi Đúng, tả ngạn sông Gâm, cách thị trấn Chiêm Hóa, Tuyên Quang 10 km về phía nam, máy bay được lệnh chuẩn bị bay thử. Xăng dầu cho máy bay được chuyên chở bằng thùng phuy từ Cao Bằng về. Ban Nghiên cứu đã quyết định chọn chiếc Tiger Moth để bay.

Chiều 15/8/1949, phi công Nguyễn Đức Việt, hàng binh gốc Đức, tên thật là Verner Schulze, đã cùng ông Nguyễn Văn Đống, Trưởng ban Cơ khí cất cánh bay lần đầu tiên. Máy bay chỉ bay được vài trăm mét, sau đó đâm xuống sông Gâm, ông Đống bị thương nhẹ. Chiếc máy bay sau đó được cán bộ Ban Nghiên cứu cùng bà con lội ra sông, tháo từng bộ phận, đem về cất giấu.

Đây là mốc lịch sử quan trọng của Không quân nhân dân Việt Nam, lần đầu tiên máy bay mang cờ đỏ sao vàng bay trên vùng trời Tổ quốc.

Ông Verner Schulze, sinh năm 1920 nguyên là phi công trong quân đội Đức bị quân Pháp bắt làm tù binh và bắt buộc tham gia đội quân lê dương tại Việt Nam. Được sự móc nối của cán bộ Việt Minh, ông bỏ hàng ngũ quân Pháp tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông trở về Đức sinh sống.

Lê Tiên Long
(VnExpress)

Chuyến “phượt” trên lưng ngựa từ Hà Nội tới Đà Nẵng của một Tổng thống Pháp

Nhiều nhân vật nổi tiếng thế giới đã tới Việt Nam để khám phá vẻ đẹp của đất nước chúng ta. Nhưng ít người biết, một chính trị gia từng làm tới chức Tổng thống Cộng hòa Pháp, đã có chuyến đi dã ngoại suốt từ Hà Nội vào Đà Nẵng trên ngựa trong một tuần!

Người đó là ông Paul Doumer (1857-1932), Toàn quyền Đông Dương giai đoạn 1897-1902, sau là Tổng thống Pháp từ 1931-1932. Ông tiến hành chuyến đi nói trên, mà bây giờ giới trẻ hay gọi là “đi phượt”, tức là đi tự túc, vì mục đích khám phá, không cần tiện nghi, khi mới sang Đông Dương nhậm chức chưa lâu.
Ông Doumer từng là Tổng thống Pháp.
Ông Doumer là chính trị gia thuộc nhóm cấp tiến tại Paris. Xuất thân trong gia đình lao động, ông tốt nghiệp cử nhân Toán học, sau đó lấy thêm bằng Luật rồi trở thành chuyên gia tài chính. Ông cũng là nhà báo. Năm 1895, ông là Bộ trưởng Tài chính trong chính phủ thủ tướng Léon Bourgeois.

Ông là người đưa ra đề nghị đánh thuế lợi tức để chính phủ có thêm tiền, đụng chạm đến quyền lợi của giới tư bản, nên các đại diện của giới tư bản trong quốc hội bác đề nghị, nội các sụp đổ. Sẵn dịp Toàn quyền Đông Dương Armand Rousseau chết vì bệnh kiết lị, chính phủ đề xuất ông sang thay thế, ông nhận lời. Lúc đó, Doumer mới 38 tuổi, để lại 5 người con đang học tập tại Paris. Sau này trong chiến tranh thế giới thứ nhất, 4 người con của ông đã hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ nước Pháp.

“Ngựa sải thẳng đét”

Câu chuyện về chuyến đi suốt từ Bắc vào Trung của viên Toàn quyền được ông ghi lại trong cuốn hồi ký L’Indochine Française (Souvenirs) kể lại đoạn đường 800 km mà ông cùng người tùy tùng, thiếu tá Nicolas, trải qua (từ trang 232 đến 236). (1)

Thực ra không phải ông đi “phượt” vì thú du sơn ngoạn thủy. Ông đi vì công việc. Là người mê mải với các công trình khai thác bản xứ, là ông muốn tự mình xem xét địa thế để xây dựng con đường xe lửa liên Đông Dương.

“Vào mùa khô ráo trên đất Bắc (Tonkin), tức tháng Giêng, tháng Hai dương lịch, có một lần tôi thử cưỡi ngựa chạy từ Hà Nội xuống đến Đà Nẵng, đường dài độ tám trăm cây số”, ông viết. “Ấy là tôi muốn tận mắt xem xét lấy phong cảnh và địa hình địa thế những nơi nào thuận tiện để đặt con đường sắt, phóng tàu hỏa xuyên Đông Dương, trước khi các kỹ sư chuyên môn dâng đồ án thiết kế cho tôi sau này. Tôi không cần nghi lễ đón tiếp long trọng, không cần cờ xí, kèn trống và tiệc tùng linh đình. Hành lý của viên võ quan hộ vệ của tôi, chỉ thu gọn lại trong một cái túi da (serviette) treo bên hông ngựa là đủ”.

Ông Doumer chỉ cần các quan Nam triều sắp đặt sao cho mỗi dịch trạm có ngựa khỏe thay cho ngựa mỏi, vài tên quân lính biết săn sóc ngựa và rành rẽ đường sá để chỉ dẫn nếu cần.

Chắc rằng từ sơ khởi, các nhà cai trị Pháp đã nhắm hướng tuyến xe lửa vòng từ Phủ Lý xuống Nam Định, khi ông Doumer kể rằng: “Cho ngựa phi nước đại suốt Nam Định qua Ninh Bình, trải qua các tỉnh lị từ Thanh Hóa đến Nghệ An, có dừng chân vài chỗ để xem xét những vị trí nên đặt đường xe lửa sau này. Nhờ khí trời mát mẻ, phong cảnh quang đãng, ngựa sải thẳng đét, chạy được suốt ngày đến cả trăm cây số mà không biết mệt”.

Ông mô tả khá kỹ lưỡng khí hậu ở các vùng đất đi qua: “Qua đến địa phận Hà Tĩnh thì trời đổi khác. Hết nắng tới mưa dạt dào. Đã có mươi phen, chúng tôi phải dùng đến chiếc áo mưa che bằng cao su, nhưng hễ tạnh đôi chút thỉ phải cởi, vì áo nặng trĩu trên vai khó chịu. Mặc dù vậy, nhờ đất cứng, ngựa chạy không lún móng, nên vẫn phi được nước đại như thường”.

Ướt như chuột lội

Qua những dòng nhật ký của Doumer, chúng ta cũng mới hình dung phong cảnh đèo Ngang hồi cuối thế kỷ 19: “Đến dãy Hoành Sơn (Portes d’Annam) tức cửa ải để vào mấy tỉnh miền Trung, chúng tôi phải xuống ngựa đi bộ, leo triền núi dốc như thang đứng, tay nắm chặt sợi cương dắt ngựa, chân bước gập ghềnh, trời thì mưa tầm tã, rồi lại phải nương tay dắt ngựa xuống dốc, rồi gặp cả một vùng cát lún, nhưng cũng không có gì là khổ cực cho lắm.

Tuy nhiên, qua khỏi dãy Hoành Sơn thì khí hậu không còn như khí hậu xứ Bắc. Mưa ôi là mưa, nước ôi là nước. Nước từ trên trời rơi xuống, nước từ trong không khí thấm vào, nước từ dưới đất xông lên. Mưa như xối, mưa không dứt hột, mưa đầy đồng, đất mềm lún, nước chan hòa, ngựa không thấy đường... Khe rạch đều ngập.

Chưa đầy một giờ đi dưới cơn mưa trút nước này, những áo caosu của chúng tôi, tuy là thứ áo chắc chắn, chế tạo từ bên Pháp, đều thấm nước trở nên vô dụng. Nước mưa thấm vào vai, ướt dần vào, áo nỉ, áo lót đều ướt rượt, và từng giọt từng giọt, nước mưa chảy vào giày ống, biến nó thành “ống chứa nước”, hết còn là giày!

Tội nghiệp cho đôi ngựa, thấy nặng, chở thêm, rồi thấy thêm nặng vì đất thêm mềm, chân ngựa chạy lún, đất trở nên sình lầy, giữ chân ngựa lại”.

Đến thị xã Đồng Hới, trời vẫn mưa không ngớt, hai thầy trò nghỉ ngơi một giờ tại nha môn dinh Công sứ Quảng Bình, có cơm no, có lửa hơ sau lưng làm quần áo bớt ướt, rồi lại từ giã lên đường. Các khe suối đều tràn ngập, ngựa lội nước, ngập tới ức ngựa rồi tới bộ yên, khiến hai người “ướt như chuột lội” không còn chỗ nào có thể ướt thêm nữa. Sự mệt mỏi thể hiện qua từng dòng nhật ký:

“Chúng tôi cũng đã đi đến nước không còn thiết tha đến sự gì nữa, cũng không cần kéo chân lên, khi ngựa lội qua chỗ cạn cũng không cần tránh lúc ngựa làm nước văng tung tóe. Đến lúc hoàng hôn, chúng tôi đến một ngôi chùa dự định là nơi tá túc đêm này và cũng là nơi thay hai ngựa. Nhưng chỉ trơ trọi hai giường chõng bằng tre, vạt giường cũng bằng tre, chùa thì vách phên không có, trống trơn một nóc. Trời lạnh ở mức 8-10 độ, có thể ngủ lại trong bộ quần áo ướt rượt này không?”.

Vậy là hai thầy trò chỉ dừng chân nghỉ, rồi tiếp tục lên đường, vì tính toán khi ngựa chạy, máu huyết trong người cũng vận động, nên tuy dầm mưa, vẫn ấm người hơn.

Thầy trò ông Doumer đi suốt đêm không ngừng, tin cậy người lính An Nam đưa đường nói rằng biết đường rành rẽ. Hai ngựa cứ phi nước đại theo chân người lính trong màn đêm huyền bí, cho tới khi tới một nơi nghỉ chân mà theo dự kiến sẽ nghỉ vào sáng hôm sau. May là ngựa mới để thay đã có sẵn. Một chuyện đáng chú ý là khi người lính dẫn đường loay hoay chọn lối tại một ngã ba, nhiều dân làng (được báo trước là có quan lớn đi qua) đã đốt đuốc đưa đường dẫn quan Toàn quyền đi đến chốn. Khi tới trạm nghỉ, ông Doumer tặng họ mấy đồng bạc, họ đều lấy làm ngạc nhiên khi ông quan Tây to nhất xứ Đông Dương không những chịu dầm mưa dãi nắng mà còn đối xử tử tế với người phục dịch.

Đến một bến sông, cây cầu bị nước dâng ngập, trời tối không nhìn rõ, phải nhờ người vào làng tìm thuyền, ông tìm đến một túp lều sẵn có đống lửa.

Những dòng nhật ký cho thấy ông Doumer đúng kiểu là người rất thích hợp với các chuyến đi “bụi”, không nề hà chuyện thiếu tiện nghi:

“Tôi kéo lại gần nửa một cái ghế băng làm bằng cây tạp, bề ngang độ hai gang tay, rồi nằm trên băng ghế, quay mặt vào lửa. Ôi, nó êm khoái làm sao. Thật là sung sướng, hạnh phúc tràn trề... Tôi trở mình trên băng, cái băng vừa chật hẹp, tôi cố giữ thăng bằng rồi ngủ vùi lúc nào không hay.

Tôi dám khuyên các vị khách lữ hành, một khi đã chán chê với cảnh cực lạc nhung lụa của các nước văn minh, xin hãy nếm thử cảnh đìu hiu cô quạnh như tôi hôm nay vậy, họa may mới biết thú”.

Chiều hôm đó, thầy trò Doumer đến Huế, đồ hành lý chuyển theo tàu thủy đã đến nơi trước. Sau bữa tiệc chiêu đãi của Khâm sứ Trung kỳ, sáng hôm sau, thầy trò lại lên ngựa, chạy miết đến ba giờ chiều, hết quãng đường dài 110km đã sửa sang tốt đẹp, nối liền thành phố Huế, vượt đèo Hải Vân qua thành phố Đà Nẵng.

Như vậy, quãng đường 800km từ Hà Nội vào Đà Nẵng, ông Doumer cưỡi ngựa đi hết đúng một tuần.

Một người liêm khiết và không vụ lợi

Tuy là người thay mặt nước Pháp cai trị cả 3 nước Đông Dương, nhưng ông là người không thích lễ nghi quan cách. Như lần triều đình Huế tiễn ông chính thức từ kinh đô vào Đà Nẵng để lên tàu đi công cán, cử phụ chánh đại thần Nguyễn Thân (ông viết “nhân vật đứng thứ 3 trong triều đình”) cùng đoàn tùy tùng võng lọng kèn nhạc hộ giá, với nghi lễ như của nhà vua tuần du, thì ông cùng sĩ quan tùy tùng quất ngựa chạy thẳng vào Đà Nẵng trước, để đoàn quân triều đình dễu dện khiêng võng che tàn cho viên lính thủy đánh giày phục vụ Toàn quyền tên là Picard!

Paul Doumer là người để lại rất nhiều công trình có giá trị về nhiều mặt cho Việt Nam, như Viện Viễn đông Bác cổ, lập Trường Cao đẳng ở Hà Nội để học sinh không còn phải qua Trung Quốc học. Năm 1901, ông đã đến Đà Lạt và quyết định chọn nơi đây thành đô thị nghỉ mát cho người Pháp tại Đông Dương và tài trợ cho bác sĩ Yersin xúc tiến việc thành lập thành phố.

Ngoài ra ông còn là người rất chú trọng công tác xây dựng các công trình hạ tầng. Cùng với đường sắt xuyên Việt, ông còn để lại ba cây cầu ở ba miền là cầu Long Biên (sau được gọi tên là cầu Doumer), cầu Tràng Tiền, và cầu Bình Lợi cho xe lửa chạy ở Sài Gòn.

Ngoài ra, nhiều cây cầu khác cũng xuất hiện trong thời kỳ trị nhậm của ông như ở Hải Phòng, Hải Dương, Việt Trì, Lào Cai, cầu Hàm Rồng ở Thanh Hóa. Ông cũng là người chủ trương mở mang cảng Hải Phòng và xây dựng tuyến đường sắt lên Vân Nam để khai thác tài nguyên. Báo chí Pháp đã mỉa mai gọi ông là “người theo chủ nghĩa đường sắt”.

Ở miền Nam, năm 1901, ông còn cho khởi công con đường đá từ Sài Gòn đi Tây Ninh để thông thương với Campuchia. Tuy nhiên, để có tiền phục vụ các công trình này, ông cũng cho tăng các thứ thuế, khiến dân chúng rất khổ cực.

Quan lại triều đình Huế coi ông Doumer là người rất hách. Sách sử cho biết các quan trong triều nghĩ mãi mới ra cách phiên âm tên ông sang âm Hán Việt là “Đô Mỹ đại nhân”. Các sử gia Pháp cũng cho biết là người rất cố chấp, cả đời ông đối nghịch với Paul Blanchy, Hội trưởng Hội đồng quản hạt Nam Kỳ. Ông Blanchy suốt đời bênh vực cho quyền lợi của xứ Nam Kỳ, còn Doumer thì đem hết quyền hành để đem lợi ích cho xứ Bắc. Khi Blanchy chết, ông Doumer tuy đang ở Sài Gòn nhưng không đến dự đám tang, cũng không cử người thay mặt đến đưa tang!

Henri Lamagat, tác giả cuốn Souvernirs d’un vieux Journalistre Indochinois, có nhận xét ông Doumer là “một nhân vật vĩ đại của nước Pháp và của thuộc địa Pháp, liêm khiết và không chút vụ lợi”. Ông Lamagat cho rằng ông Doumer chỉ có một lỗi duy nhất là chỉ chú tâm vun vén cho đất Bắc mà không bỏ phần cho đất Nam.

Từ năm 1902, sau khi về nước, ông lại sôi nổi tham gia hoạt động chính trị, cùng với Giám quốc Raymond Poincare và Thủ tướng Clémenceau xây dựng lại nước Pháp sau thế chiến thứ nhất. Từ chức Chủ tịch Thượng viện, ông được bầu làm Tổng thống Pháp năm 1931, là tổng thống thứ 14 của Cộng hòa Pháp. Tuy nhiên, ngày 6.5.1932, Paul Doumer bị một gã tâm thần người Nga tên là Gorguluff bắn, và qua đời vào ngày hôm sau, lúc đó ông 75 tuổi.

Là con của một công nhân đường sắt, những công trình đường sắt mà ông Doumer khởi tạo trên đất Việt Nam hơn 100 năm qua, đến nay vẫn còn có giá trị lớn trong nền kinh tế nước ta!

(1). Nhà xuất bản Vuibert & Nony, Paris in năm 1903. Đã được học giả Vương Hồng Sển dịch lại một số phần đăng trong cuốn di cảo “Dỡ mắm”, NXB Trẻ, 2014.
Năm 2015, tác phẩm đã được Alphabook dịch và xuất bản tại Việt Nam.


Lê Tiên Long

Lao động

Thứ Tư, 22 tháng 3, 2017

Quan ngày xưa nghỉ hưu thế nào

Quan võ đến 70 tuổi mới về hưu, còn quan văn 65 tuổi về hưu, là quy định từ thời Lê trung hưng. Sau đó, các quan đều nghỉ hưu khi đủ 65 tuổi, quy định này áp dụng cho đến triều Nguyễn.

Theo Lịch triều hiến chương loại chí của tác giả Phan Huy Chú, phần Quan chức chí, thì từ thời Trần đã có lệ cho các quan về nghỉ hưu (trí sĩ). Sử sách có ghi Nguyễn Tiến Ngô đã về trí sĩ rồi lại ra làm quan.

Thời Lê Thánh Tông, nhà vua có chỉ truyền cho các quan văn võ tại chức, đến 65 tuổi, muốn về hưu, thì viết đơn gửi bộ Lại, kê tâu để thi hành.

Từ thời Lê trung hưng (tính từ Lê Thế Tông), thì lệ các quan văn võ đến 70 tuổi mới cho về hưu. Điều này cho thấy tuổi quan của quan lại thời Lê là rất cao. Theo quy định, viên quan nào đến 69 tuổi thì cuối năm làm tờ khải viện lệ bày xin, giao cho các quan bàn, trình lên Chúa Trịnh xem xét, để có thể thăng chức tước khi về hưu.
Quan lại triều Nguyễn. Ảnh minh họa.
Một số trường hợp cụ thể có ghi lại về việc các quan trí sĩ đầu thời Lê trung hưng, như Thái phó Nguyễn Thực, Thiếu phó Nguyễn Minh Triết đều về hưu ở tuổi 80. Bồi tụng Thượng thư bộ Binh Nguyễn Khải về hưu khi đã 78 tuổi.

Thời Lê Dụ Tông, năm Vĩnh Thịnh thứ 15 (1719), ra quy định là quan võ, thì nội giám từ đồng tri giám sự trở lên, 70 tuổi được cho về hưu, từ lục phẩm trở xuống thì cho cáo lão. Định lệ cho quan văn cũng tương tự.

Thời Lê Ý Tông, năm Vĩnh Hựu thứ 3 (1737), quan văn là Hàn lâm thừa chỉ Trần Ân Triêm 65 tuổi xin về hưu. Chúa Trinh vương Trịnh Giang chuẩn y cho. Từ đấy, các quan văn được về hưu từ 65 tuổi.

Đến đời Lê Hiển Tông, các quan nhiều người muốn xin về hưu sớm. Cả hai ban văn võ đều dâng tờ khải xin được về hưu ở tuổi 60. Chúa Minh vương Trịnh Doanh xem tờ khải không đồng ý, quyết định các quan phải đến 64 tuổi mới được viện lệ xin nghỉ.

Đến cuối đời Hiển Tông, các quan văn ngoài 60 tuổi nhiều người chán cảnh làm quan. Khi đó, chúa Tĩnh Vương Trịnh Sâm ra lệnh tuân theo lệ cũ, các quan 70 tuổi mới được nghỉ hưu.

Sang đến chúa Đoan Nam vương Trịnh Khải, Tể tướng Bùi Huy Bích dâng tờ khải xin lại theo lệ gần đấy, cho các quan 65 tuổi được nghỉ việc để tỏ ra ưu đãi tuổi già. Chúa nghe theo.

Phan Huy Chú có bình luận, đầu thời Lê Trung Hưng, việc về hưu chưa được coi là vẻ vang, cho nên có lẽ vì vậy mà các quan cố gắng làm việc dù tuổi đã già. Theo truyền thống thời Lê, các quan đã về hưu mà được gọi ra làm việc lại (khởi phục) thì coi như là có đặc ân.

Lệ thời ấy, là ngày một quan về hưu, thì các quan trong triều đình đều có thơ mừng, lần lượt viết vào bức lụa, bày tiệc tiễn đưa. Từ khi Yên quận Phạm Công Trứ (1600-1675) 70 tuổi về hưu, có thơ lưu giản với các quan đồng triều, có đến 50 người ở các phủ, bộ, tự, khoa, đạo, viện họa thơ viết lên trướng lụa, uống rượu tiễn trên giang đình, từ đó về sau thành lệ.

Từ thời Lê Dụ Tông, niên hiệu Bảo Thái năm đầu (1720) về sau, khi các quan đủ hạn tuổi về hưu, vua chúa ban cho sắc thư, các quan tổ chức khen mừng thành tích, tiễn đưa xe ngựa nhộn nhịp, được cho là “làm câu chuyện hay trong buổi thái bình”.

Sang đến triều Nguyễn, vẫn giữ quy định các quan đến 65 tuổi thì về hưu. Tuy nhiên, với các chức quan to, có lẽ việc áp dụng cũng không chặt chẽ mà tùy thuộc vào hoàn cảnh.

Nguyễn Công Trứ, vừa là quan văn, vừa là tướng võ, đến năm 1847, niên hiệu Tự Đức năm thứ nhất, ông 69 tuổi mới nghỉ hưu. Đông các Đại học sĩ Cao Xuân Dục, Tổng tài quốc sử quán, năm 1913, đến 70 tuổi mới về hưu. Năm 1933, khi vua Bảo Đại quyết định cải tổ bộ máy triều đình, cho cả 5 thượng thư về nghỉ hưu thì Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Hữu Bài đã 70 tuổi.

Tuy nhiên lịch sử vẫn ghi nhận những trường hợp ngoại lệ đặc biệt. Như cụ Đoàn Tử Quang, người huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh, năm 1900 thi đỗ cử nhân khi đã 82 tuổi, vẫn được đặc cách bổ dụng làm Huấn đạo huyện Hương Sơn, rồi huấn đạo huyện Can Lộc. Đến năm 85 tuổi, cụ xin về hưu để phụng dưỡng mẹ già.

Còn Khâm sai đại thần Trần Đình Túc, được cho nghỉ hưu sau khi thương lượng với Tướng Pháp Henri Rivière sau trận đánh thành Hà Nội lần thứ 2 (1882), khi ông 64 tuổi. Đến khi vua Tự Đức mất, vua Hiệp Hòa nối ngôi, xảy ra sự kiện quân Pháp chiếm cửa Thuận An, triều đình Huế lại cử Trần Đình Túc ra làm Khâm sai toàn quyền cùng với Nguyễn Trọng Hợp đi hòa nghị, để ký Hòa ước Quý Mùi (còn gọi là Hòa ước Harmand - 1883).

Trong khi đó, hai vị quan lớn của triều Nguyễn có sự cộng tác đắc lực với người Pháp là Nguyễn Thân (Thượng thư Bộ Lại) và Hoàng Cao Khải (Thượng thư Bộ Binh), sau khi tranh chấp quyền lực với nhau, thì cùng phải về hưu năm 1903, khi ông Thân mới 58 tuổi, ông Khải mới 53 tuổi.

Lê Tiên Long

VnExpress