Nhà Lê quy định, vụ kiện nhỏ phải được xử trong 5 ngày, với hành vi mưu sát có thể kéo dài tới một năm.
Thời Lê, cả nước được chia thành 12 đạo thừa tuyên (tương đương cấp tỉnh hiện nay) và kinh đô (gọi là phủ Trung đô). Ở cấp đạo có Đô binh sứ ty (Đô ty - coi việc quân sự), Thừa chính sứ ty (Thừa ty - coi việc hành chính, dân sự) và Hiến sát sứ ty (Hiến ty - coi việc kiểm tra, giám sát và tư pháp). Dưới cấp đạo có phủ, huyện, xã.
Thời Lê Chân Tông, năm 1645, những việc kiện về hộ tịch, hôn nhân, ruộng đất, trước hết phải qua xã trưởng, rồi đến quan huyện. Huyện không xử xong thì kêu lên quan phủ. Nếu cho rằng quan phủ xét đoán không công bằng, người dân kêu lên Thừa ty. Nếu thấy Thừa ty chưa được công bằng thì kêu lên Hiến ty.
Hiến ty ở đạo xét xử không xong, vụ việc mới được đưa lên Cai đạo ngự sử (cơ quan giám sát hoạt động của các đạo). Nghi ngờ Cai đạo ngự sử xét xử vẫn chưa chuẩn thì mới kêu lên Ngự sử đài - cơ quan giám sát, kiểm soát hoạt động của toàn bộ hệ thống triều đình và các địa phương. Ngự sử đài có trách nhiệm xem xét lại kỹ lưỡng, phân biệt gian ngay từng bản án, tra xét thực trạng hối lộ của các viên quan...
Quy định thời Lê yêu cầu, các vụ án liên quan đến nhân mạng trước hết phải báo cáo với chánh tổng và xã trưởng đến khám nghiệm qua, rồi trình lên quan phủ, quan huyện. Quan phủ huyện theo đồ án khám nghiệm, trình lên hai ty Thừa, Hiến ở đạo. Thừa ty là cơ quan xét xử, có vai trò như tòa án ngày nay, còn Hiến ty thẩm định lại bản án để tuân hành.
Trong các vụ án này, nếu khổ chủ thấy hai ty Thừa, Hiến ở lộ xử chưa hợp lệ thì được phép khải lên bộ Hình để xem xét lại.
Theo sách Lịch triều hiến chương loại chí của tác giả Phan Huy Chú, kỳ hạn xét xử về các loại kiện tụng triều Lê như sau: Kiện về hộ tịch, hôn nhân có thời hạn một tháng; kiện về ruộng đất, trộm cướp, thời hạn 3 tháng; kiện mưu sát, thời hạn là 4 tháng. Các kỳ hạn đều tính bắt đầu từ ngày bắt được nghi phạm.
Đến đời Lê Hy Tông, năm 1676, quy định về thời hạn xử án liên quan đến nhân mạng được mở rộng, cho phép xét xử trong vòng một năm. Đến năm 1687, thời hạn rút về 4 tháng như cũ.
Về việc kiểm tra, giám sát quá trình xử án, thời Lê Thần Tông (năm 1659), triều đình quy định: Nếu thấy quan huyện làm không đúng, quan phủ có quyền điều tra xem xét, trình lên Thừa ty để theo đó khải lên đến Chúa. Quan phủ mà làm không đúng thì cho phép Thừa ty khải lên. Thừa ty sai sót thì cho phép Hiến ty khải lên. Hiến ty không đúng thì cho Cai đạo khải lên. Cai đạo không đúng thì cho Ngự sử đài khải lên. Ngự sử đài không đúng thì đưa ra công đồng bàn xét. Những người bị xét khải thì tùy nặng nhẹ mà xử, nhẹ thì xử phạt, nặng thì bị biếm bãi (cách chức).
Quan xử sai bị phạt thế nào?
Đời Lê Huyền Tông (năm 1665), triều đình ban hành quy định: Án lớn mà xử không đúng thì vị quan đó bị xử biếm một tư (giảm một cấp trong hệ thống cấp bậc của quan lại), cho nộp tiền chuộc theo mức độ từ 15 đến 100 quan. Án nhỏ mà xử không đúng thì xử phạt bằng tiền, mức độ từ 5 quan tiền với quan cấp xã, 15 quan tiền với quan cấp đạo và 20 quan tiền với quan Ngự sử.
Triều Lê cũng yêu cầu hệ thống quan lại mỗi năm phải thống kê đầy đủ số lượng vụ án, số vụ đã được xét xử, từ cấp xã trở lên. Các đạo phải kê khai đủ bao nhiêu án đã xử, trong đó bao nhiêu án xử phạt, bao nhiêu án chưa xử xong, kèm theo nguyên nhân. Các bản thống kê phải được nộp lên Ngự sử đài vào hạ tuần tháng 11 hằng năm.
Đời Lê Dụ Tông (năm 1717) quy định soát vào hạ tuần tháng 10, quan phủ soát lại những án quan huyện đã xử. Thượng tuần tháng 11, Thừa ty soát lại án của phủ, huyện đã xử. Trung tuần tháng 11, Hiến ty soát lại những án của các nha môn Thừa ty và Trấn thủ Lưu thủ. Hạ tuần tháng 11, Cai đạo soát lại những án xử của Hiến ty, và Ngự sử đài cũng soát lại các án của Cai đạo từng xứ. Thời hạn soát lại các án là một tuần (tuần thời xưa là 10 ngày). Thượng tuần tháng 12, Ngự sử đài đem số án nộp lên cho Chúa và triều đình.
Năm 1718, vua Lê Dụ Tông từng ra dụ cho các quan rằng: "Gốc của việc chính trị quý nhất là bớt kiện tụng... Nay cần bàn định để cốt cho đổi thói kiện tụng, gây đạo liêm sỉ để tỏ rõ chính sách bình trị".
Lê Tiên Long
(VnExpress 7/2017)
Thứ Năm, 20 tháng 7, 2017
Thời phong kiến trị gian lận thi cử như thế nào?
Trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam, gian lận trong thi cử bị xử tội rất nặng, người vi phạm có thể bị bắt làm nô lệ, bỏ tù cho đến xử án tử.
Năm 1673, đời Lê Gia Tông, tại khoa thi Hương, Tham chính Thanh Hóa Vũ Cầu Hối nhận tiền bạc, gửi gắm học trò làm kỳ đệ tử. Phủ doãn phủ Phụng Thiên Ngô Sách Dụ làm việc trong trường thi ngầm mang sách vở vào trường, sai gia nhân làm quyển thi đưa lẫn vào chấm lấy đỗ, xoay tiền của. Việc bị phát giác, cả hai đều bị xử đến tội đồ (bắt làm nô lệ).
Kỳ thi cuối năm 1696, Tham tụng (người đứng đầu chính quyền trong phủ chúa Định Nam vương Trịnh Căn) là Lê Hi gửi gắm con mình trong kì thi Hương cho Sách Tuân, nhưng cuối cùng quyển thi của con Lê Hi vẫn bị đánh trượt. Sách Tuân ngầm đưa quyển thi của con Lê Hi cho các khảo quan duyệt lại lần nữa, sửa từ bị đánh trượt sang lấy đỗ. Phó đô ngự sử Ngô Hải biết chuyện nhưng ém đi không tâu báo.
Sau khi sự việc bị phát giác, Sách Tuân bị xử giảo (thắt cổ chết). Ngô Hải bị bãi chức, các quan phúc, giám khảo đều bị phạt. Lê Hi là chủ mưu nhưng là quan to thì lại thoát tội.
Năm 1775, trong kỳ đệ tứ khoa thi Hội dưới thời vua Lê Hiển Tông, con trai nhà bác học nổi tiếng Lê Quý Đôn là Lê Quý Kiệt, đã đổi quyển thi cho một thí sinh khác tên Đinh Thì Trung. Khi sự việc bị phát giác, Thì Trung bị đày ra Yên Quảng, Quý Kiệt bị tước bỏ học vị cho về làm thứ dân, rồi bắt giam vào ngục cửa Đông, một thời gian sau mới được thả.
Trong kỳ thi Hương năm Minh Mạng thứ 15 (1834), tiến sĩ Ngô Thế Vinh được triều đình điều về trường thi Hà Nội làm giám khảo. Do vi phạm trường quy nên ông bị cách chức, tước học vị phải về nhà dạy học. Đến đời vua Tự Đức, năm Tự Đức thứ 9 (1856), nhờ Tổng đốc Định An là Nguyễn Đình Tân dâng sớ cho phục chức hàm cho những người có tài năng từng bị cách chức, Ngô Thế Vinh mới được khôi phục học vị tiến sĩ.
Các quan trong ngành giáo dục dính đến gian lận thi cử có thể bị xử phạt nặng gấp nhiều lần dân thường. Nếu sửa bài thi của thí sinh cũng có thể bị xử đến án tử. Điển hình là sự việc có liên quan đến "thần Siêu, thánh Quát", diễn ra dưới thời nhà Nguyễn, năm 1841, niên hiệu Minh Mạng thứ 21.
Trong kỳ thi Hương tại trường thi Thừa Thiên, Cao Bá Quát và Phan Nhạ làm sơ khảo, ngầm lấy muội đèn làm mực chữa 24 quyển bài thi của học trò, đỗ được 5 người. Quyển thi của Trương Đăng Trinh (cháu đại thần Trương Đăng Quế) nhẽ ra bị đánh hỏng thì quan phân khảo là Nguyễn Văn Siêu nói với quan nội trường cho đỗ.
Sự kiện này khiến dư luận bàn tán, triều đình tra xét. Các ông Quát, Nhạ bị khép tội xử tử, nhưng sau đó được tha cho đổi thành giảo giam hậu (giam được 3 năm thì thả). Nguyễn Văn Siêu bị tội đồ, phạt trượng nhưng sau xét lại chỉ cách chức.
Dù nặng hay nhẹ, các án trường thi vẫn là dạng “án điểm”, các triều đình phong kiến hết sức phòng ngừa và khi phát giác sẽ xử lý rất nghiêm. Bởi thời xưa quan niệm giáo dục chính là “bách niên chi kế”, là quá trình “trồng người”. Nếu xảy ra gian lận trong quá trình học tập sẽ tạo ra những con người hư hỏng, không thể sử dụng được.
Sĩ tử thời xưa chỉ có con đường chủ yếu để tiến thân là qua thi cử. Trường thi chính là khởi đầu quá trình đào tạo quan chức. Những người có “tì vết” về đường học hành thi cử thì đường tiến thân coi như khép lại.
Lê Tiên Long
(VnExpress 5/2017)
Năm 1673, đời Lê Gia Tông, tại khoa thi Hương, Tham chính Thanh Hóa Vũ Cầu Hối nhận tiền bạc, gửi gắm học trò làm kỳ đệ tử. Phủ doãn phủ Phụng Thiên Ngô Sách Dụ làm việc trong trường thi ngầm mang sách vở vào trường, sai gia nhân làm quyển thi đưa lẫn vào chấm lấy đỗ, xoay tiền của. Việc bị phát giác, cả hai đều bị xử đến tội đồ (bắt làm nô lệ).
Kỳ thi cuối năm 1696, Tham tụng (người đứng đầu chính quyền trong phủ chúa Định Nam vương Trịnh Căn) là Lê Hi gửi gắm con mình trong kì thi Hương cho Sách Tuân, nhưng cuối cùng quyển thi của con Lê Hi vẫn bị đánh trượt. Sách Tuân ngầm đưa quyển thi của con Lê Hi cho các khảo quan duyệt lại lần nữa, sửa từ bị đánh trượt sang lấy đỗ. Phó đô ngự sử Ngô Hải biết chuyện nhưng ém đi không tâu báo.
Sau khi sự việc bị phát giác, Sách Tuân bị xử giảo (thắt cổ chết). Ngô Hải bị bãi chức, các quan phúc, giám khảo đều bị phạt. Lê Hi là chủ mưu nhưng là quan to thì lại thoát tội.
Năm 1775, trong kỳ đệ tứ khoa thi Hội dưới thời vua Lê Hiển Tông, con trai nhà bác học nổi tiếng Lê Quý Đôn là Lê Quý Kiệt, đã đổi quyển thi cho một thí sinh khác tên Đinh Thì Trung. Khi sự việc bị phát giác, Thì Trung bị đày ra Yên Quảng, Quý Kiệt bị tước bỏ học vị cho về làm thứ dân, rồi bắt giam vào ngục cửa Đông, một thời gian sau mới được thả.
Trong kỳ thi Hương năm Minh Mạng thứ 15 (1834), tiến sĩ Ngô Thế Vinh được triều đình điều về trường thi Hà Nội làm giám khảo. Do vi phạm trường quy nên ông bị cách chức, tước học vị phải về nhà dạy học. Đến đời vua Tự Đức, năm Tự Đức thứ 9 (1856), nhờ Tổng đốc Định An là Nguyễn Đình Tân dâng sớ cho phục chức hàm cho những người có tài năng từng bị cách chức, Ngô Thế Vinh mới được khôi phục học vị tiến sĩ.
Các quan trong ngành giáo dục dính đến gian lận thi cử có thể bị xử phạt nặng gấp nhiều lần dân thường. Nếu sửa bài thi của thí sinh cũng có thể bị xử đến án tử. Điển hình là sự việc có liên quan đến "thần Siêu, thánh Quát", diễn ra dưới thời nhà Nguyễn, năm 1841, niên hiệu Minh Mạng thứ 21.
Trong kỳ thi Hương tại trường thi Thừa Thiên, Cao Bá Quát và Phan Nhạ làm sơ khảo, ngầm lấy muội đèn làm mực chữa 24 quyển bài thi của học trò, đỗ được 5 người. Quyển thi của Trương Đăng Trinh (cháu đại thần Trương Đăng Quế) nhẽ ra bị đánh hỏng thì quan phân khảo là Nguyễn Văn Siêu nói với quan nội trường cho đỗ.
Sự kiện này khiến dư luận bàn tán, triều đình tra xét. Các ông Quát, Nhạ bị khép tội xử tử, nhưng sau đó được tha cho đổi thành giảo giam hậu (giam được 3 năm thì thả). Nguyễn Văn Siêu bị tội đồ, phạt trượng nhưng sau xét lại chỉ cách chức.
Dù nặng hay nhẹ, các án trường thi vẫn là dạng “án điểm”, các triều đình phong kiến hết sức phòng ngừa và khi phát giác sẽ xử lý rất nghiêm. Bởi thời xưa quan niệm giáo dục chính là “bách niên chi kế”, là quá trình “trồng người”. Nếu xảy ra gian lận trong quá trình học tập sẽ tạo ra những con người hư hỏng, không thể sử dụng được.
Sĩ tử thời xưa chỉ có con đường chủ yếu để tiến thân là qua thi cử. Trường thi chính là khởi đầu quá trình đào tạo quan chức. Những người có “tì vết” về đường học hành thi cử thì đường tiến thân coi như khép lại.
Lê Tiên Long
(VnExpress 5/2017)
Những món ăn có tên từ tiếng Quảng Đông
Hủ tíu, vằn thắn, sủi cảo, há cảo… là các món ăn thông dụng ở Việt Nam mang những cái tên có xuất xứ từ tiếng Quảng Đông, Trung Quốc.
Do quá trình giao thương, từ hàng ngàn năm qua, ở Việt Nam có rất nhiều người Hoa sinh sống. Những lưu dân này đem rất nhiều món ăn sang phổ biến ở nước ta, góp phần làm phong phú kho tàng ẩm thực Việt. Tuy nhiên, do cách gọi tên theo âm Quảng Đông hoặc Triều Châu, Phúc Kiến, nên nhiều món trở nên khá lạ tai, khó hiểu. Mặc dù vậy, nếu chuyển qua âm Hán Việt, có lẽ tên các món ăn này lại trở nên dễ hiểu với người biết chữ Hán, nhưng cũng có thể rắc rối hơn với những người chưa từng nghe.
Một món ăn thông dụng ở khắp miền Nam, hủ tíu, nghe tên đã quen tai và biết ngay là có tên theo tiếng Quảng Đông. Ít người biết chữ này chuyển sang âm Hán Việt đọc là “quả điều”, nghĩa là sợi bột hay bánh sợi, vì món này làm kỳ công bởi việc kéo, cán sợi bột rất nhiều lần.
Món mì đặc sản khác được cả hai miền cùng yêu thích với sủi cảo, xá xíu, trứng luộc, rau, hẹ, tôm, gan, nước dùng đậm đà có tên nghe rất “kêu” là vằn thắn hoặc hoành thánh. Nhưng nếu dịch ra âm Hán Việt, thì nó có tên nghe rất êm tai và văn vẻ là “vân thôn”, tức là “nuốt mây”, do hình dáng của các viên sủi cảo nhìn như những đám mây bồng bềnh trắng trẻo.
Sủi cảo cũng là một món ăn được gọi theo âm Quảng Đông, có âm Hán Việt đọc là “thủy giáo”, tức là loại bánh chẻo (giáo) được luộc trong nước. Nhân của sủi cảo thường là thịt băm trộn các loại rau, gia vị. Các cửa hàng điểm tâm ở cả Việt Nam và Trung Quốc cũng như các nước trong khu vực thường làm các loại sủi cảo luộc, hấp, chiên. Trong khi đó, loại bánh hấp mà có nhân tôm được gọi là “há cảo”, âm Hán Việt là “hà giáo”, với chữ hà chính là con tôm.
Một món bánh cuốn có rau, củ, lạp xưởng, tép... chấm nước tương, thông dụng ở khắp các đường phố trong Nam, trên chục năm nay cũng xuất hiện nhiều ngoài Bắc, có tên gây tò mò là bò bía. Nhiều bạn trẻ ăn xong cứ hỏi người bán “gọi là bò mà sao chả có miếng thịt bò nào?”. Thì ra tên món này được gọi theo âm Phúc Kiến, Triều Châu, là “pò pía” mà âm Hán Việt lại phát âm là “bạc bính”, tức là bánh tráng mỏng, chính là nói về lớp bánh tráng dùng để cuộn món ăn này.
Lạp xưởng cũng là một món được gọi bằng âm Quảng Đông, mà âm Hán Việt sẽ là “lạp trường”, trong đó, “lạp” là thịt ướp, và “trường” nghĩa là ruột. Bởi món này được làm từ thịt lợn xay, trộn gia vị, rồi nhồi vào ruột lợn, ướp khô một cách tự nhiên.
Một món ăn vặt thông dụng khác là “quẩy”, trong Nam thường gọi đầy đủ tên của nó là “dầu cháo quẩy”. Đây cũng chỉ là cách phát âm theo âm Quảng Đông của chữ “du tạc khối”, trong đó “khối” chính là miếng, vì thanh quẩy làm từ hai miếng bột bé xíu dính vào nhau. Còn “du tạc” thì nghĩa là chiên trong dầu. Có người lại giải thích chữ “quẩy” là đọc từ âm "quỷ”, rồi liên tưởng đến chuyện người Trung Quốc thù gian thần Tần Cối hại chết trung thần Nhạc Phi nên làm bánh hình hai con quỷ để chiên lên nhằm nguyền rủa vợ chồng họ Tần, nhưng cách giải thích này không thuyết phục lắm.
Món nước chấm thông dụng thường được dùng với các món ăn gốc Hoa có tên gọi là xì dầu hay “Tàu vị yểu”. Món này dịch sang âm Hán Việt thì gọi là “đầu vị dầu”, tức là dầu chiết xuất từ hạt đậu ra mà thôi.
Một món ăn vặt khác được bày bán rất nhiều tại phố Bà Triệu, Hà Nội có tên cũng đậm nét Quảng Đông là “lạc rang húng lìu”. Húng lìu chính là hương liệu, tức là các thứ bột ngũ vị hương rang cùng với lạc, đem lại vị thơm ngon đặc biệt cho món ăn.
Còn rất nhiều những món ăn khác như “chí mà phù” là chè vừng đen, “lục tào xá” là chè đậu xanh, lẩu âm Hán Việt là “lô”, tức là lò lửa, phá lấu âm Hán Việt là đả lỗ, tức là thịt ướp mặn… cũng có tên gọi bắt nguồn từ âm Quảng Đông. Như vậy, các tên gọi đó đã thành những từ thông dụng chỉ các món quen thuộc với người Việt, thậm chí còn được du khách sành ăn tìm kiếm mỗi lần có dịp đến Việt Nam.
Lê Tiên Long
(VnExpress 5/2017)
Do quá trình giao thương, từ hàng ngàn năm qua, ở Việt Nam có rất nhiều người Hoa sinh sống. Những lưu dân này đem rất nhiều món ăn sang phổ biến ở nước ta, góp phần làm phong phú kho tàng ẩm thực Việt. Tuy nhiên, do cách gọi tên theo âm Quảng Đông hoặc Triều Châu, Phúc Kiến, nên nhiều món trở nên khá lạ tai, khó hiểu. Mặc dù vậy, nếu chuyển qua âm Hán Việt, có lẽ tên các món ăn này lại trở nên dễ hiểu với người biết chữ Hán, nhưng cũng có thể rắc rối hơn với những người chưa từng nghe.
Một món ăn thông dụng ở khắp miền Nam, hủ tíu, nghe tên đã quen tai và biết ngay là có tên theo tiếng Quảng Đông. Ít người biết chữ này chuyển sang âm Hán Việt đọc là “quả điều”, nghĩa là sợi bột hay bánh sợi, vì món này làm kỳ công bởi việc kéo, cán sợi bột rất nhiều lần.
![]() |
| Hủ tíu Nam Vang ở Châu Đốc, An Giang. Ảnh: Hương Chi. |
Sủi cảo cũng là một món ăn được gọi theo âm Quảng Đông, có âm Hán Việt đọc là “thủy giáo”, tức là loại bánh chẻo (giáo) được luộc trong nước. Nhân của sủi cảo thường là thịt băm trộn các loại rau, gia vị. Các cửa hàng điểm tâm ở cả Việt Nam và Trung Quốc cũng như các nước trong khu vực thường làm các loại sủi cảo luộc, hấp, chiên. Trong khi đó, loại bánh hấp mà có nhân tôm được gọi là “há cảo”, âm Hán Việt là “hà giáo”, với chữ hà chính là con tôm.
Một món bánh cuốn có rau, củ, lạp xưởng, tép... chấm nước tương, thông dụng ở khắp các đường phố trong Nam, trên chục năm nay cũng xuất hiện nhiều ngoài Bắc, có tên gây tò mò là bò bía. Nhiều bạn trẻ ăn xong cứ hỏi người bán “gọi là bò mà sao chả có miếng thịt bò nào?”. Thì ra tên món này được gọi theo âm Phúc Kiến, Triều Châu, là “pò pía” mà âm Hán Việt lại phát âm là “bạc bính”, tức là bánh tráng mỏng, chính là nói về lớp bánh tráng dùng để cuộn món ăn này.
Lạp xưởng cũng là một món được gọi bằng âm Quảng Đông, mà âm Hán Việt sẽ là “lạp trường”, trong đó, “lạp” là thịt ướp, và “trường” nghĩa là ruột. Bởi món này được làm từ thịt lợn xay, trộn gia vị, rồi nhồi vào ruột lợn, ướp khô một cách tự nhiên.
Một món ăn vặt thông dụng khác là “quẩy”, trong Nam thường gọi đầy đủ tên của nó là “dầu cháo quẩy”. Đây cũng chỉ là cách phát âm theo âm Quảng Đông của chữ “du tạc khối”, trong đó “khối” chính là miếng, vì thanh quẩy làm từ hai miếng bột bé xíu dính vào nhau. Còn “du tạc” thì nghĩa là chiên trong dầu. Có người lại giải thích chữ “quẩy” là đọc từ âm "quỷ”, rồi liên tưởng đến chuyện người Trung Quốc thù gian thần Tần Cối hại chết trung thần Nhạc Phi nên làm bánh hình hai con quỷ để chiên lên nhằm nguyền rủa vợ chồng họ Tần, nhưng cách giải thích này không thuyết phục lắm.
Món nước chấm thông dụng thường được dùng với các món ăn gốc Hoa có tên gọi là xì dầu hay “Tàu vị yểu”. Món này dịch sang âm Hán Việt thì gọi là “đầu vị dầu”, tức là dầu chiết xuất từ hạt đậu ra mà thôi.
Một món ăn vặt khác được bày bán rất nhiều tại phố Bà Triệu, Hà Nội có tên cũng đậm nét Quảng Đông là “lạc rang húng lìu”. Húng lìu chính là hương liệu, tức là các thứ bột ngũ vị hương rang cùng với lạc, đem lại vị thơm ngon đặc biệt cho món ăn.
Còn rất nhiều những món ăn khác như “chí mà phù” là chè vừng đen, “lục tào xá” là chè đậu xanh, lẩu âm Hán Việt là “lô”, tức là lò lửa, phá lấu âm Hán Việt là đả lỗ, tức là thịt ướp mặn… cũng có tên gọi bắt nguồn từ âm Quảng Đông. Như vậy, các tên gọi đó đã thành những từ thông dụng chỉ các món quen thuộc với người Việt, thậm chí còn được du khách sành ăn tìm kiếm mỗi lần có dịp đến Việt Nam.
Lê Tiên Long
(VnExpress 5/2017)
Thứ Tư, 17 tháng 5, 2017
Vụ án oan của Hậu quân Lê Chất
Tuy đã chết 10 năm, Hậu quân Lê Chất, nguyên Tổng trấn Bắc Thành, vẫn bị vướng một vụ án oan khi bị vua Minh Mạng hạch tội, mộ bị san phẳng, vợ con bị án trảm giam hậu, tịch biên gia sản.
Cuộc đời của Lê Chất, cũng giống như người bạn thân của ông là Lê Văn Duyệt, đều lập nhiều chiến công hiển hách, sau khi giúp vua Gia Long thành công mỗi người được cử trấn giữ một đầu đất nước (Lê Chất làm Tổng trấn Bắc Thành gồm toàn bộ các tỉnh miền Bắc, Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định gồm toàn bộ các tỉnh miền Nam), nhưng sau khi đã chết, đều bị vua xử tội, mãi nhiều năm sau mới được giải oan.
Trong thời vua Minh Mạng, nhà Nguyễn xảy ra 3 vụ đại án, đó là các vụ xử Hoàng tôn Mỹ Đường (con Hoàng thái tử Cảnh), Lê Văn Duyệt, Lê Chất. Các sử quan sau này đều cho rằng đây là ba vụ án oan.
1. Lê Chất sinh năm 1769 (kém Lê Văn Duyệt 5 tuổi), mất năm 1826, quê ấp Bình Trị, xã Mỹ Quang, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, được gọi là Hậu quân Chất, nguyên là danh tướng của triều Tây Sơn, từng được phong tới chức Đô đốc.
Thuở nhỏ ông theo cha là Lê Trung học văn lẫn võ. Lê Trung theo Nguyễn Huệ từ sớm, còn Lê Chất, mãi đến năm Kỷ Dậu (1789) mới được Nguyễn Nhạc (lúc này xưng là vua Thái Đức) sử dụng, phong cho chức Thủy quân Đô tùy trông coi cửa biển Thị Nại. Sau khi Quy Nhơn thuộc về vua Cảnh Thịnh, Lê Chất được toàn quyền nắm giữ thủy binh với chức vụ Thủy sư Đô đốc.
Sau khi vua Quang Trung mất, vua Cảnh Thịnh nối ngôi khi mới 9 tuổi, triều đình Tây Sơn bắt đầu lục đục vì các cuộc tranh giành quyền lực. Nhà vua bắt giết bố, vợ Lê Chất, lại lùng bắt ông khi đó đang cầm quân tại Quảng Ngãi, khiến Lê Chất phải dùng kế “kim thiền thoát xác”, dùng thi thể người khác giả là mình, rồi trốn vào rừng núi ở Trà Bồng, Quảng Ngãi.
Sau có người dụ hàng, Lê Chất về theo hầu chúa Nguyễn Phúc Ánh, lập nhiều chiến công, tuy nhiên cũng gây nhiều hiềm khích với các đại tướng, quan lại đứng đầu triều Nguyễn như Đặng Trần Thường, Nguyễn Văn Thành, Trịnh Hoài Đức.
Tháng 3 năm Kỷ Mùi (1799), Nguyễn Phúc Ánh ra đánh Quy Nhơn. Lê Chất có nhiều công lao, giúp quân chúa Nguyễn hạ được thành, rồi theo Nguyễn Phúc Ánh về Gia Định. Năm sau, khi quân chúa Nguyễn đánh nhau với Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng tại Bình Định, theo lời khuyên của Võ Tánh, Nguyễn Phúc Ánh kéo quân đánh ra Phú Xuân. Đến ngày 2 tháng 5 năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Ánh chiếm được Phú Xuân.
Sau đó, Lê Chất cùng Lê Văn Duyệt được cử kéo quân vào đánh Bình Định, tuy lúc đầu bị hai tướng Tây Sơn là Trấn thủ Quảng Nam Phạm Cần Chánh và Trấn thủ Quảng Nghĩa Lê Sĩ Hoàng đánh bại, nhưng khi các tướng Tây Sơn biết tin Phú Xuân đã thất thủ, đành rút quân theo đường thượng đạo ra Bắc.
2. Trong chiến dịch đánh ra Bắc năm 1802, Lê Chất làm Khâm sai Chưởng Hậu quân, Bình Tây tướng quân, lần lượt đánh lấy các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, rồi kéo quân vào Thăng Long, bắt được vua quan nhà Tây Sơn, lập được công to, được phong tước Quận công. Khi đó, Đặng Trần Thường có lòng ghen ghét, bàn với các tướng rằng: “Chất mà được quận công thì lũ ta phải mười lần quận công”.
Lấy được Thăng Long, vua Gia Long cho đổi tên thành Bắc Thành, Nguyễn Văn Thành được cử làm Tổng trấn, Lê Chất là Hiệp Tổng trấn.
Năm 1803, ở Quảng Yên có giặc cướp, Lê Chất cầm quân đi đánh, có thắc mắc với tướng Nguyễn Văn Trương là sao Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành không đánh giặc, khiến Nguyễn Văn Thành bắt đầu gây lòng thù oán.
Năm 1820, vua Gia Long mất, vua Minh Mạng lên ngôi, Lê Chất vẫn được trọng dụng, được cử làm Tổng trấn Bắc Thành, con là trai Lê Hậu được cho lấy Trưởng Công chúa Nguyễn Thị Ngọc Cửu, con gái thứ tám của vua Gia Long. Con gái Lê Chất trước đó cũng được tiến vào cung làm vợ vua Minh Mạng, sinh hạ ra Quỳ Châu Quận công Miên Liên.
Lúc đương thời, Lê Chất cùng Lê Văn Duyệt là các khai quốc công thần, được vua Gia Long nể trọng. Tuy nhiên, sau khi vua Minh Mạng lên ngôi, đối xử với hai ông có phần giảm sút, có lẽ vì thế mà cả hai ông đều sinh bất mãn. Thái độ này đã gây vạ cho cả hai ông ngay cả sau khi đã chết.
Năm 1826, Lê Chất xin tạm nghỉ chức Tổng trấn Bắc thành về Bình Định lo việc tang cho mẹ, rồi mất ở quê nhà. Vua Minh Mạng nghe tin ấy, nghỉ chầu ba ngày để tỏ lòng thương xót, tặng hàm Thiếu phó, đồng thời ban cấp tiền lụa để lo đám tang Lê Chất rất hậu hĩnh.
3. Năm 1835, sau khi Lê Văn Duyệt mất 3 năm, ở Gia Định, Lê Văn Khôi là con nuôi Lê Văn Duyệt nổi dậy làm phản, chiếm thành suốt 3 năm. Vì tội phản nghịch của con, Lê Văn Duyệt đã chết cũng bị xử tội, Tả thị lang bộ Lại Lê Bá Tú mới hạch tội Lê Chất sáu tội đại ác đáng phải xử lăng trì, và mười tội lớn nữa, trong đó gồm tám tội phải xử chém, hai tội phải xử treo cổ.
Khi đình thần nghị tội, vua Minh Mạng dụ rằng: “Trước kia trẫm nghĩ hắn cùng Lê Văn Duyệt dẫu mang lòng bất thần, nhưng người ta không chịu theo, thì chắc không dám gây sự. Vả hắn là nhất phẩm đại thần, dù có mưu gian mà thần dân chưa cáo tố, thì không nỡ bắt tội. Nay đã có người tham hạch, vậy phải trái cho công, đã có triều đình pháp luật. Chuẩn cho đình thần đem mười sáu điều tội của hắn mà định rõ tội danh, vợ con cũng án luật mà nghi xử, duy con gái nào đã xuất giá cùng là cháu trai còn nhỏ thì tha”.
Các quan bàn rằng: Do Chất đã bị bắt về âm phủ nên xin truy thu bằng sắc, đào mả quan tài và chém xác bêu đầu để răn. Vợ Chất là Lê Thị Sa cũng là kẻ đồng mưu, xin xử chém ngay.
Án làm xong, đưa xuống cho các quan Đốc phủ ở các địa phương đọc và gửi ý kiến vế triều đình. Các quan ở địa phương đều tâu xin y lời nghị bàn của triều thần.
Vua Minh Mạng mới kết luận: “Lê Chất cùng với Lê Văn Duyệt, dựa nhau làm gian, tội ác đầy chứa, nhổ từng cái tóc mà tính cũng không hết, giá thử bổ áo quan giết thây cũng không là quá. Song nghĩ lại Chất tội cũng như Duyệt, trước kia Duyệt đã không bị bổ áo quan, giết thây thì nắm xương thây của Chất cũng chẳng màng bắt tội”.
Sau đó, vua cho Tổng đốc Bình Phú (kiêm hai tỉnh Bình Định và Phú Yên) là Vũ Xuân Cẩn san bằng mồ mả của Lê Chất rồi dựng tấm bia đá lên đó, khắc lớn mấy chữ “Gian thần Lê Chất phục pháp xứ” (nơi gian thần Lê Chất chịu hình pháp). Vợ Lê Chất là Lê Thị Sa và các con là Lê Cận, Lê Trương, Lê Kỵ bị án trảm giam hậu.
Gia sản của Lê Chất bị tịch thu, tính ra được 22.000 quan tiền, vua hạ lệnh cho sung công, rồi cho Tổng đốc Hà Ninh là Đặng Văn Hòa đem tiền ấy cứu cấp cho dân nghèo 12 tỉnh Bắc Kỳ.
Người con gái Lê Chất tuy làm vợ vua sinh hoàng tử, cũng bị giam cho đến chết. Con Lê Chất là Lê Hậu lấy công chúa (cô ruột vua Minh Mạng) nhưng đã chết nên không liên quan.
Lê Cận, Lê Trương, Lê Kỵ bị xử chém năm 1838. Lê Thị Sa bị đưa về nguyên quán làm nô tì, cháu của Lê Chất là bọn Lê Luận được giảm tội, đày lên Cao Bằng để làm lính, đến năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), gặp kỳ ân xá mới được tha về.
Mãi đến khi vua Tự Đức lên ngôi (1847), Đại học sĩ Vũ Xuân Cẩn mới dâng biểu xin gia ơn con cháu Thái tử Cảnh, cùng xin bổ dụng con cháu các đại thần Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt, Lê Chất. Vua nghe cảm động, cho thi hành cả. Đến năm 1868 vua Tự Đức mới truy phong cho ông chức Tả đồn Đô Thống chế.
Cuộc đời của cha con Lê Chất mang nhiều bi kịch của, cả hai ông đều lập được nhiều công trạng phục vụ cho chủ của mình, song cuối đời đều bị các vua sau đối xử bất công, tàn nhẫn. Lê Trung bị vua Cảnh Thịnh chém đầu, Lê Chất bị Minh Mạng cho san bằng mồ mả, đều là những nỗi oan thiên cổ.
Lê Tiên Long
(Lao động)
Cuộc đời của Lê Chất, cũng giống như người bạn thân của ông là Lê Văn Duyệt, đều lập nhiều chiến công hiển hách, sau khi giúp vua Gia Long thành công mỗi người được cử trấn giữ một đầu đất nước (Lê Chất làm Tổng trấn Bắc Thành gồm toàn bộ các tỉnh miền Bắc, Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định gồm toàn bộ các tỉnh miền Nam), nhưng sau khi đã chết, đều bị vua xử tội, mãi nhiều năm sau mới được giải oan.
Trong thời vua Minh Mạng, nhà Nguyễn xảy ra 3 vụ đại án, đó là các vụ xử Hoàng tôn Mỹ Đường (con Hoàng thái tử Cảnh), Lê Văn Duyệt, Lê Chất. Các sử quan sau này đều cho rằng đây là ba vụ án oan.
![]() |
| Bàn thờ Lê Chất tại Lăng Ông, quận Bình Thạnh. |
Thuở nhỏ ông theo cha là Lê Trung học văn lẫn võ. Lê Trung theo Nguyễn Huệ từ sớm, còn Lê Chất, mãi đến năm Kỷ Dậu (1789) mới được Nguyễn Nhạc (lúc này xưng là vua Thái Đức) sử dụng, phong cho chức Thủy quân Đô tùy trông coi cửa biển Thị Nại. Sau khi Quy Nhơn thuộc về vua Cảnh Thịnh, Lê Chất được toàn quyền nắm giữ thủy binh với chức vụ Thủy sư Đô đốc.
Sau khi vua Quang Trung mất, vua Cảnh Thịnh nối ngôi khi mới 9 tuổi, triều đình Tây Sơn bắt đầu lục đục vì các cuộc tranh giành quyền lực. Nhà vua bắt giết bố, vợ Lê Chất, lại lùng bắt ông khi đó đang cầm quân tại Quảng Ngãi, khiến Lê Chất phải dùng kế “kim thiền thoát xác”, dùng thi thể người khác giả là mình, rồi trốn vào rừng núi ở Trà Bồng, Quảng Ngãi.
Sau có người dụ hàng, Lê Chất về theo hầu chúa Nguyễn Phúc Ánh, lập nhiều chiến công, tuy nhiên cũng gây nhiều hiềm khích với các đại tướng, quan lại đứng đầu triều Nguyễn như Đặng Trần Thường, Nguyễn Văn Thành, Trịnh Hoài Đức.
Tháng 3 năm Kỷ Mùi (1799), Nguyễn Phúc Ánh ra đánh Quy Nhơn. Lê Chất có nhiều công lao, giúp quân chúa Nguyễn hạ được thành, rồi theo Nguyễn Phúc Ánh về Gia Định. Năm sau, khi quân chúa Nguyễn đánh nhau với Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng tại Bình Định, theo lời khuyên của Võ Tánh, Nguyễn Phúc Ánh kéo quân đánh ra Phú Xuân. Đến ngày 2 tháng 5 năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Ánh chiếm được Phú Xuân.
Sau đó, Lê Chất cùng Lê Văn Duyệt được cử kéo quân vào đánh Bình Định, tuy lúc đầu bị hai tướng Tây Sơn là Trấn thủ Quảng Nam Phạm Cần Chánh và Trấn thủ Quảng Nghĩa Lê Sĩ Hoàng đánh bại, nhưng khi các tướng Tây Sơn biết tin Phú Xuân đã thất thủ, đành rút quân theo đường thượng đạo ra Bắc.
2. Trong chiến dịch đánh ra Bắc năm 1802, Lê Chất làm Khâm sai Chưởng Hậu quân, Bình Tây tướng quân, lần lượt đánh lấy các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, rồi kéo quân vào Thăng Long, bắt được vua quan nhà Tây Sơn, lập được công to, được phong tước Quận công. Khi đó, Đặng Trần Thường có lòng ghen ghét, bàn với các tướng rằng: “Chất mà được quận công thì lũ ta phải mười lần quận công”.
Lấy được Thăng Long, vua Gia Long cho đổi tên thành Bắc Thành, Nguyễn Văn Thành được cử làm Tổng trấn, Lê Chất là Hiệp Tổng trấn.
Năm 1803, ở Quảng Yên có giặc cướp, Lê Chất cầm quân đi đánh, có thắc mắc với tướng Nguyễn Văn Trương là sao Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành không đánh giặc, khiến Nguyễn Văn Thành bắt đầu gây lòng thù oán.
Năm 1820, vua Gia Long mất, vua Minh Mạng lên ngôi, Lê Chất vẫn được trọng dụng, được cử làm Tổng trấn Bắc Thành, con là trai Lê Hậu được cho lấy Trưởng Công chúa Nguyễn Thị Ngọc Cửu, con gái thứ tám của vua Gia Long. Con gái Lê Chất trước đó cũng được tiến vào cung làm vợ vua Minh Mạng, sinh hạ ra Quỳ Châu Quận công Miên Liên.
Lúc đương thời, Lê Chất cùng Lê Văn Duyệt là các khai quốc công thần, được vua Gia Long nể trọng. Tuy nhiên, sau khi vua Minh Mạng lên ngôi, đối xử với hai ông có phần giảm sút, có lẽ vì thế mà cả hai ông đều sinh bất mãn. Thái độ này đã gây vạ cho cả hai ông ngay cả sau khi đã chết.
Năm 1826, Lê Chất xin tạm nghỉ chức Tổng trấn Bắc thành về Bình Định lo việc tang cho mẹ, rồi mất ở quê nhà. Vua Minh Mạng nghe tin ấy, nghỉ chầu ba ngày để tỏ lòng thương xót, tặng hàm Thiếu phó, đồng thời ban cấp tiền lụa để lo đám tang Lê Chất rất hậu hĩnh.
3. Năm 1835, sau khi Lê Văn Duyệt mất 3 năm, ở Gia Định, Lê Văn Khôi là con nuôi Lê Văn Duyệt nổi dậy làm phản, chiếm thành suốt 3 năm. Vì tội phản nghịch của con, Lê Văn Duyệt đã chết cũng bị xử tội, Tả thị lang bộ Lại Lê Bá Tú mới hạch tội Lê Chất sáu tội đại ác đáng phải xử lăng trì, và mười tội lớn nữa, trong đó gồm tám tội phải xử chém, hai tội phải xử treo cổ.
Khi đình thần nghị tội, vua Minh Mạng dụ rằng: “Trước kia trẫm nghĩ hắn cùng Lê Văn Duyệt dẫu mang lòng bất thần, nhưng người ta không chịu theo, thì chắc không dám gây sự. Vả hắn là nhất phẩm đại thần, dù có mưu gian mà thần dân chưa cáo tố, thì không nỡ bắt tội. Nay đã có người tham hạch, vậy phải trái cho công, đã có triều đình pháp luật. Chuẩn cho đình thần đem mười sáu điều tội của hắn mà định rõ tội danh, vợ con cũng án luật mà nghi xử, duy con gái nào đã xuất giá cùng là cháu trai còn nhỏ thì tha”.
Các quan bàn rằng: Do Chất đã bị bắt về âm phủ nên xin truy thu bằng sắc, đào mả quan tài và chém xác bêu đầu để răn. Vợ Chất là Lê Thị Sa cũng là kẻ đồng mưu, xin xử chém ngay.
Án làm xong, đưa xuống cho các quan Đốc phủ ở các địa phương đọc và gửi ý kiến vế triều đình. Các quan ở địa phương đều tâu xin y lời nghị bàn của triều thần.
Vua Minh Mạng mới kết luận: “Lê Chất cùng với Lê Văn Duyệt, dựa nhau làm gian, tội ác đầy chứa, nhổ từng cái tóc mà tính cũng không hết, giá thử bổ áo quan giết thây cũng không là quá. Song nghĩ lại Chất tội cũng như Duyệt, trước kia Duyệt đã không bị bổ áo quan, giết thây thì nắm xương thây của Chất cũng chẳng màng bắt tội”.
Sau đó, vua cho Tổng đốc Bình Phú (kiêm hai tỉnh Bình Định và Phú Yên) là Vũ Xuân Cẩn san bằng mồ mả của Lê Chất rồi dựng tấm bia đá lên đó, khắc lớn mấy chữ “Gian thần Lê Chất phục pháp xứ” (nơi gian thần Lê Chất chịu hình pháp). Vợ Lê Chất là Lê Thị Sa và các con là Lê Cận, Lê Trương, Lê Kỵ bị án trảm giam hậu.
Gia sản của Lê Chất bị tịch thu, tính ra được 22.000 quan tiền, vua hạ lệnh cho sung công, rồi cho Tổng đốc Hà Ninh là Đặng Văn Hòa đem tiền ấy cứu cấp cho dân nghèo 12 tỉnh Bắc Kỳ.
Người con gái Lê Chất tuy làm vợ vua sinh hoàng tử, cũng bị giam cho đến chết. Con Lê Chất là Lê Hậu lấy công chúa (cô ruột vua Minh Mạng) nhưng đã chết nên không liên quan.
Lê Cận, Lê Trương, Lê Kỵ bị xử chém năm 1838. Lê Thị Sa bị đưa về nguyên quán làm nô tì, cháu của Lê Chất là bọn Lê Luận được giảm tội, đày lên Cao Bằng để làm lính, đến năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), gặp kỳ ân xá mới được tha về.
Mãi đến khi vua Tự Đức lên ngôi (1847), Đại học sĩ Vũ Xuân Cẩn mới dâng biểu xin gia ơn con cháu Thái tử Cảnh, cùng xin bổ dụng con cháu các đại thần Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt, Lê Chất. Vua nghe cảm động, cho thi hành cả. Đến năm 1868 vua Tự Đức mới truy phong cho ông chức Tả đồn Đô Thống chế.
Cuộc đời của cha con Lê Chất mang nhiều bi kịch của, cả hai ông đều lập được nhiều công trạng phục vụ cho chủ của mình, song cuối đời đều bị các vua sau đối xử bất công, tàn nhẫn. Lê Trung bị vua Cảnh Thịnh chém đầu, Lê Chất bị Minh Mạng cho san bằng mồ mả, đều là những nỗi oan thiên cổ.
Lê Tiên Long
(Lao động)
Ngày 30/4/1975 của các vị tướng
Ngày 30/4/1975 của các vị tướngSáng 30/4/1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các ủy viên Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đón nhận tin vui quân giải phóng tiến vào dinh Độc Lập tại phòng họp ở Nhà Con Rồng, thành cổ Hà Nội.
Theo hồi ức của đại tướng Võ Nguyên Giáp thể hiện trong cuốn “Tổng hành dinh trong mùa xuân đại thắng”, Bộ chỉ huy tối cao nhận tin đầu tiên về việc quân giải phóng có xe tăng dẫn đầu đang tiến vào Sài Gòn từ Đài phát thanh Nhật Bản lúc 10h. Đến 10h50, Cục 2 (Quân báo) báo cáo quân giải phóng đã vào dinh Tổng thống chính quyền Sài Gòn. Ngay sau đó, các đài phát thanh phương Tây cũng đưa tin này.
11h30, ông Nguyễn Duy Phê, Cục phó Cục cơ yếu mang vào phòng họp một bức điện của Trung tướng Lê Trọng Tấn (Tư lệnh cánh quân phía đông) báo cáo: Một đơn vị thuộc cánh quân phía đông đã cắm cờ lên dinh Độc Lập.
Sau khi chỉ đạo gửi bức điện “Đã nhận tin ta cắm cờ lên dinh Độc Lập lúc 11h. Các anh trong Bộ Chính trị rất vui, rất vui" lúc 12h25, đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ thị cho Cục Tuyên huấn thuộc Tổng cục Chính trị điện ngay cho Thông tấn xã Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam kịp thời truyền tin thắng lợi, và chuẩn bị viết thông cáo chiến thắng. Chỉ 15 phút sau, đài ngừng buổi phát thanh thường lệ, phát đi phát lại dòng tin: Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Lẫn vào tiếng loa phóng thanh, tiếng reo hò, hoan hô chiến thắng vang dậy khắp phố phường.
12h50, tại Sở chỉ huy, có mặt thiếu tướng Cao Văn Khánh, Phó tổng Tham mưu trưởng; đại tá Lê Hữu Đức, Cục trưởng Tác chiến; đại tá Nguyễn Trọng Yên và thượng tá Phạm Chí Nhân, Cục trưởng và Cục phó Tuyên huấn. Trước tấm bản đồ thành phố Sài Gòn - Gia Định, mọi người đứng dậy, chăm chú nhìn theo hướng tay đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ.
Thượng úy Nguyễn Tiến Trỗ, cán bộ bảo vệ đại tướng, với chiếc máy ảnh hiệu Kiev, đã ghi lại hình ảnh lịch sử này.
Trong khi đó, tại miền Nam, ngày 30/4/1975, Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh đang đóng tại chỉ huy sở tiền phương - căn cứ Căm Xe thuộc xã Minh Thạch, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương (nay xã Minh Tân, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương).
Khi nghe báo cáo quân giải phóng đã chiếm dinh Độc Lập, Tổng thống Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng, cả Sở chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh reo mừng. Trong sách “Tổng hành dinh trong mùa xuân đại thắng”, đại tướng Võ Nguyên Giáp kể về diễn biến được thuật lại tại Sở chỉ huy chiến dịch lúc đó: “Không còn là chuyện bất ngờ mà ai nấy đều giàn giụa nước mắt, siết chặt tay nhau, phấn khởi, tự hào”.
Các ông Lê Đức Thọ, đại diện Ban chấp hành trung ương Đảng tại mặt trận; đại tướng Văn Tiến Dũng, Tư lệnh chiến dịch; Phạm Hùng, Chính ủy chiến dịch, xúc động ôm hôn mọi người. Thiếu tướng Đinh Đức Thiện (Phó tư lệnh chiến dịch) là người khóc ra tiếng to nhất. Thiếu tướng Trần Văn Trà (Phó tư lệnh chiến dịch) đôi mắt đỏ hoe, nghẹn ngào sung sướng. Riêng ông Phạm Hùng, mở phanh chiếc áo bà ba, vừa cười to vừa bình luận sảng khoái, vừa ra lệnh chuẩn bị tiếp quản Sài Gòn.
Trong bức ảnh lịch sử “Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh tại chỉ huy sở tiền phương”, do tác giả Võ Xuân Sáng, cán bộ bảo vệ đại tướng Văn Tiến Dũng chụp, ngoài các vị kể trên, còn có mặt thiếu tướng Lê Ngọc Hiền, Tham mưu trưởng chiến dịch; Lê Xuân Kiện, Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng binh chủng Tăng - Thiết giáp…
Chiều 30/4/1975, tại dinh Độc Lập, sau khi đưa Tổng thống chính quyền Sài Gòn Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu đến đài phát thanh đọc lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trở về, đại úy Phạm Xuân Thệ, Trung đoàn phó Trung đoàn 66, sư đoàn 304, đã bị một cán bộ trong Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 có mặt lúc đó đã phê bình là làm việc đó mà không báo cáo cấp trên.
Trung tướng Phạm Xuân Thệ, sau là Tư lệnh quân đoàn 2, rồi Tư lệnh quân khu 1, kể trong hồi ức: “Tôi không biết nói sao, bởi thực lòng trong tình thế đó tôi chỉ nghĩ đơn giản là làm sao sớm để họ tuyên bố đầu hàng, chiến sự sẽ sớm chấm dứt, bớt đi những sự hy sinh không đáng có. Liền sau đó, đồng chí Sư đoàn trưởng Nguyễn Ân nói: Đây là Thệ, Trung đoàn phó Trung đoàn 66 Sư đoàn 304, sai đâu sẽ kiểm điểm sau, để cho đồng chí ấy về chỉ huy đơn vị".
Sau lúc ấy, ông Thệ lên xe về đơn vị, đi kiểm tra Tiểu đoàn 9 lúc này đã chiếm giữ Bộ tư lệnh Hải quân và cảng Ba Son, nhưng một số người dân xô vào cảng Ba Son cướp tài sản. Ông ra lệnh cho Tiểu đoàn 9 phải bảo vệ không để cho dân vào cướp phá, đóng kín các cánh cổng và tổ chức canh gác chu đáo. "Sau đó tôi về Ban chỉ huy Tiểu đoàn 9. Lúc đó khoảng 17h chiều, tôi đi tắm giặt và lấy trong balô bộ quần áo mới toanh ra mặc, còn bộ quần áo cũ do đã mặc nhiều ngày nên tôi bỏ luôn. Sau này, tôi cứ tiếc mãi vì không giữ lại bộ quần áo còn vương bụi đường mà tôi đã mặc trong giờ phút lịch sử đáng nhớ của dân tộc", ông kể.
"Khoảng 17h30 ngày 30/4, tôi về Sở chỉ huy Trung đoàn đang ở tòa nhà Bộ Nội vụ chính quyền Sài Gòn cũ, ở trước của Dinh Độc Lập, về phía tay trái cách khoảng 500m. Về đến đây tôi gặp đồng chí Nguyễn Ân, Sư đoàn trưởng đang ở Sở chỉ huy Trung đoàn. Vừa thấy tôi, đồng chí Ân nói: Việc đưa Dương Văn Minh ra Đài Phát thanh, các cậu xử trí như thế là đúng đấy, không có gì sai sót đâu. Lúc bấy giờ tôi mới thở phào nhẹ nhõm…", ông kể tiếp.
Thiếu tướng Hoàng Đan, Phó Tư lệnh quân đoàn 2, trong hồi ký “Từ sông Bến Hải đến dinh Độc Lập”, kể về thời khắc lịch sử khi ông vào đến cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn trưa 30/4: "Khi tôi vào, Tổng thống Dương Văn Minh đã đi ra đài phát thanh. Chuẩn tưởng Nguyễn Hữu hạnh (quyền Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn) trông thấy tôi đoán là người chỉ huy, nên báo cáo về tình hình trong dinh trước lúc quân giải phóng đến, giới thiệu nhân vật chính có mặt. Tôi nói với chuẩn tướng Hạnh, ở đây còn liên lạc được với đơn vị nào, anh cho họ biết các anh đã đầu hàng không điều kiện và báo cho đơn vị đó nhanh chóng đầu hàng. Chuẩn tướng Hạnh đã liên lạc và truyền lệnh được cho nhiều đơn vị khác nhau".
"Vũ Văn Mẫu - Thủ tướng - xin phép được gặp đại diện Mặt trận với ý định bàn giao về nhà sớm. Tôi nói với ông Mẫu chúng tôi là quân nhân, vì vậy các anh cứ ở đây, ngay trong gian phòng này. Ngày mai sẽ có đại diện Mặt trận đến. Các anh cứ ngồi chơi thoải mái, hôm nay ăn thử một bữa cơm Việt cộng cho vui. Trông bọn họ cũng có vẻ yên tâm, nói cười vui vẻ với nhau", thiếu tướng Đan kể.
"Sau lúc thảo xong thông cáo số 1, khoảng 17h các đồng chí đại diện Quân đoàn 4 vào (Quân đoàn 4 được Bộ chỉ huy chiến dịch giảo nhiệm vụ chiếm dinh Độc Lập). Các đồng chí nói, các đồng chí có nhiệm vụ chiếm dinh Độc Lập nhưng vào chậm, nay xin cho bàn giao lại. Chúng tôi vui vẻ bàn giao ngay. Thật ra chúng tôi cũng muốn bàn giao nhanh để ra ngoài, nắm lại tình hình các đơn vị và trước mắt nghỉ ngơi một ít. Đã 4-5 ngày đêm không hề chợp mắt. Trên đường xe cộ, người chen chúc nhau. Chúng tôi phải hết sức vất vả và mãi 24h mới về đến Thủ Đức", ông Đan kể trong hồi ức.
Thượng tướng Hoàng Cầm, Tư lệnh quân đoàn 4, kể lại với tác giả Phan Hoàng trong cuốn “Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam”: “13h30 ngày 30/4/1975, khi tôi vào đến dinh Độc Lập, được biết Dương Văn Minh cùng nội các của ông ta từ sáng sớm đến lúc ấy vẫn chưa ăn uống gì. Tất nhiên, họ sợ hãi không dám ngỏ lời. Tôi liền bảo họ: Các ông có thể nhờ người nhà đưa cơm nước và đồ cá nhân cần dùng tới, chứ đói sao chịu nổi… và đêm ấy, tôi cùng anh em binh lính nằm ngay trên hiên dinh Độc Lập nghỉ ngơi. Dù đang đói ngủ nhưng tôi không tài nào chợp mắt được. Đã nằm trong dinh Độc Lập rồi mà tôi cứ ngỡ mình đang mơ!".
Tướng Cầm kể tiếp: "Tôi nhớ hoài kỷ niệm đêm hôm đó. Tôi - Tư lệnh và anh Hoàng Thế Thiện - Chính ủy Quân đoàn 4 cùng nằm trò chuyện và ngủ ngay ngoài hiên dinh Độc Lập. Không mùng mền chiếu gối. Sáng dậy, muỗi đốt đỏ cả người. Chúng tôi đùa, muỗi Sài Gòn kinh quá! Sau này, mỗi lần gặp nhau, anh Thiện cũng hay nhắc lại kỷ niệm ấy. Cả hai cười vang”.
Tiên Long
(VnExpress 30/4)
Theo hồi ức của đại tướng Võ Nguyên Giáp thể hiện trong cuốn “Tổng hành dinh trong mùa xuân đại thắng”, Bộ chỉ huy tối cao nhận tin đầu tiên về việc quân giải phóng có xe tăng dẫn đầu đang tiến vào Sài Gòn từ Đài phát thanh Nhật Bản lúc 10h. Đến 10h50, Cục 2 (Quân báo) báo cáo quân giải phóng đã vào dinh Tổng thống chính quyền Sài Gòn. Ngay sau đó, các đài phát thanh phương Tây cũng đưa tin này.
11h30, ông Nguyễn Duy Phê, Cục phó Cục cơ yếu mang vào phòng họp một bức điện của Trung tướng Lê Trọng Tấn (Tư lệnh cánh quân phía đông) báo cáo: Một đơn vị thuộc cánh quân phía đông đã cắm cờ lên dinh Độc Lập.
Sau khi chỉ đạo gửi bức điện “Đã nhận tin ta cắm cờ lên dinh Độc Lập lúc 11h. Các anh trong Bộ Chính trị rất vui, rất vui" lúc 12h25, đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ thị cho Cục Tuyên huấn thuộc Tổng cục Chính trị điện ngay cho Thông tấn xã Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam kịp thời truyền tin thắng lợi, và chuẩn bị viết thông cáo chiến thắng. Chỉ 15 phút sau, đài ngừng buổi phát thanh thường lệ, phát đi phát lại dòng tin: Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Lẫn vào tiếng loa phóng thanh, tiếng reo hò, hoan hô chiến thắng vang dậy khắp phố phường.
12h50, tại Sở chỉ huy, có mặt thiếu tướng Cao Văn Khánh, Phó tổng Tham mưu trưởng; đại tá Lê Hữu Đức, Cục trưởng Tác chiến; đại tá Nguyễn Trọng Yên và thượng tá Phạm Chí Nhân, Cục trưởng và Cục phó Tuyên huấn. Trước tấm bản đồ thành phố Sài Gòn - Gia Định, mọi người đứng dậy, chăm chú nhìn theo hướng tay đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ.
Thượng úy Nguyễn Tiến Trỗ, cán bộ bảo vệ đại tướng, với chiếc máy ảnh hiệu Kiev, đã ghi lại hình ảnh lịch sử này.
![]() |
| Ảnh tư liệu chụp lúc 12h50 ngày 30/4/1975 tại Sở chỉ huy, thành cổ Hà Nội. |
Khi nghe báo cáo quân giải phóng đã chiếm dinh Độc Lập, Tổng thống Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng, cả Sở chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh reo mừng. Trong sách “Tổng hành dinh trong mùa xuân đại thắng”, đại tướng Võ Nguyên Giáp kể về diễn biến được thuật lại tại Sở chỉ huy chiến dịch lúc đó: “Không còn là chuyện bất ngờ mà ai nấy đều giàn giụa nước mắt, siết chặt tay nhau, phấn khởi, tự hào”.
Các ông Lê Đức Thọ, đại diện Ban chấp hành trung ương Đảng tại mặt trận; đại tướng Văn Tiến Dũng, Tư lệnh chiến dịch; Phạm Hùng, Chính ủy chiến dịch, xúc động ôm hôn mọi người. Thiếu tướng Đinh Đức Thiện (Phó tư lệnh chiến dịch) là người khóc ra tiếng to nhất. Thiếu tướng Trần Văn Trà (Phó tư lệnh chiến dịch) đôi mắt đỏ hoe, nghẹn ngào sung sướng. Riêng ông Phạm Hùng, mở phanh chiếc áo bà ba, vừa cười to vừa bình luận sảng khoái, vừa ra lệnh chuẩn bị tiếp quản Sài Gòn.
Trong bức ảnh lịch sử “Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh tại chỉ huy sở tiền phương”, do tác giả Võ Xuân Sáng, cán bộ bảo vệ đại tướng Văn Tiến Dũng chụp, ngoài các vị kể trên, còn có mặt thiếu tướng Lê Ngọc Hiền, Tham mưu trưởng chiến dịch; Lê Xuân Kiện, Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng binh chủng Tăng - Thiết giáp…
![]() |
| Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh tại chỉ huy sở tiền phương. Ảnh tư liệu. |
Chiều 30/4/1975, tại dinh Độc Lập, sau khi đưa Tổng thống chính quyền Sài Gòn Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu đến đài phát thanh đọc lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trở về, đại úy Phạm Xuân Thệ, Trung đoàn phó Trung đoàn 66, sư đoàn 304, đã bị một cán bộ trong Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 có mặt lúc đó đã phê bình là làm việc đó mà không báo cáo cấp trên.
Trung tướng Phạm Xuân Thệ, sau là Tư lệnh quân đoàn 2, rồi Tư lệnh quân khu 1, kể trong hồi ức: “Tôi không biết nói sao, bởi thực lòng trong tình thế đó tôi chỉ nghĩ đơn giản là làm sao sớm để họ tuyên bố đầu hàng, chiến sự sẽ sớm chấm dứt, bớt đi những sự hy sinh không đáng có. Liền sau đó, đồng chí Sư đoàn trưởng Nguyễn Ân nói: Đây là Thệ, Trung đoàn phó Trung đoàn 66 Sư đoàn 304, sai đâu sẽ kiểm điểm sau, để cho đồng chí ấy về chỉ huy đơn vị".
Sau lúc ấy, ông Thệ lên xe về đơn vị, đi kiểm tra Tiểu đoàn 9 lúc này đã chiếm giữ Bộ tư lệnh Hải quân và cảng Ba Son, nhưng một số người dân xô vào cảng Ba Son cướp tài sản. Ông ra lệnh cho Tiểu đoàn 9 phải bảo vệ không để cho dân vào cướp phá, đóng kín các cánh cổng và tổ chức canh gác chu đáo. "Sau đó tôi về Ban chỉ huy Tiểu đoàn 9. Lúc đó khoảng 17h chiều, tôi đi tắm giặt và lấy trong balô bộ quần áo mới toanh ra mặc, còn bộ quần áo cũ do đã mặc nhiều ngày nên tôi bỏ luôn. Sau này, tôi cứ tiếc mãi vì không giữ lại bộ quần áo còn vương bụi đường mà tôi đã mặc trong giờ phút lịch sử đáng nhớ của dân tộc", ông kể.
"Khoảng 17h30 ngày 30/4, tôi về Sở chỉ huy Trung đoàn đang ở tòa nhà Bộ Nội vụ chính quyền Sài Gòn cũ, ở trước của Dinh Độc Lập, về phía tay trái cách khoảng 500m. Về đến đây tôi gặp đồng chí Nguyễn Ân, Sư đoàn trưởng đang ở Sở chỉ huy Trung đoàn. Vừa thấy tôi, đồng chí Ân nói: Việc đưa Dương Văn Minh ra Đài Phát thanh, các cậu xử trí như thế là đúng đấy, không có gì sai sót đâu. Lúc bấy giờ tôi mới thở phào nhẹ nhõm…", ông kể tiếp.
Thiếu tướng Hoàng Đan, Phó Tư lệnh quân đoàn 2, trong hồi ký “Từ sông Bến Hải đến dinh Độc Lập”, kể về thời khắc lịch sử khi ông vào đến cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn trưa 30/4: "Khi tôi vào, Tổng thống Dương Văn Minh đã đi ra đài phát thanh. Chuẩn tưởng Nguyễn Hữu hạnh (quyền Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn) trông thấy tôi đoán là người chỉ huy, nên báo cáo về tình hình trong dinh trước lúc quân giải phóng đến, giới thiệu nhân vật chính có mặt. Tôi nói với chuẩn tướng Hạnh, ở đây còn liên lạc được với đơn vị nào, anh cho họ biết các anh đã đầu hàng không điều kiện và báo cho đơn vị đó nhanh chóng đầu hàng. Chuẩn tướng Hạnh đã liên lạc và truyền lệnh được cho nhiều đơn vị khác nhau".
"Vũ Văn Mẫu - Thủ tướng - xin phép được gặp đại diện Mặt trận với ý định bàn giao về nhà sớm. Tôi nói với ông Mẫu chúng tôi là quân nhân, vì vậy các anh cứ ở đây, ngay trong gian phòng này. Ngày mai sẽ có đại diện Mặt trận đến. Các anh cứ ngồi chơi thoải mái, hôm nay ăn thử một bữa cơm Việt cộng cho vui. Trông bọn họ cũng có vẻ yên tâm, nói cười vui vẻ với nhau", thiếu tướng Đan kể.
"Sau lúc thảo xong thông cáo số 1, khoảng 17h các đồng chí đại diện Quân đoàn 4 vào (Quân đoàn 4 được Bộ chỉ huy chiến dịch giảo nhiệm vụ chiếm dinh Độc Lập). Các đồng chí nói, các đồng chí có nhiệm vụ chiếm dinh Độc Lập nhưng vào chậm, nay xin cho bàn giao lại. Chúng tôi vui vẻ bàn giao ngay. Thật ra chúng tôi cũng muốn bàn giao nhanh để ra ngoài, nắm lại tình hình các đơn vị và trước mắt nghỉ ngơi một ít. Đã 4-5 ngày đêm không hề chợp mắt. Trên đường xe cộ, người chen chúc nhau. Chúng tôi phải hết sức vất vả và mãi 24h mới về đến Thủ Đức", ông Đan kể trong hồi ức.
Thượng tướng Hoàng Cầm, Tư lệnh quân đoàn 4, kể lại với tác giả Phan Hoàng trong cuốn “Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam”: “13h30 ngày 30/4/1975, khi tôi vào đến dinh Độc Lập, được biết Dương Văn Minh cùng nội các của ông ta từ sáng sớm đến lúc ấy vẫn chưa ăn uống gì. Tất nhiên, họ sợ hãi không dám ngỏ lời. Tôi liền bảo họ: Các ông có thể nhờ người nhà đưa cơm nước và đồ cá nhân cần dùng tới, chứ đói sao chịu nổi… và đêm ấy, tôi cùng anh em binh lính nằm ngay trên hiên dinh Độc Lập nghỉ ngơi. Dù đang đói ngủ nhưng tôi không tài nào chợp mắt được. Đã nằm trong dinh Độc Lập rồi mà tôi cứ ngỡ mình đang mơ!".
Tướng Cầm kể tiếp: "Tôi nhớ hoài kỷ niệm đêm hôm đó. Tôi - Tư lệnh và anh Hoàng Thế Thiện - Chính ủy Quân đoàn 4 cùng nằm trò chuyện và ngủ ngay ngoài hiên dinh Độc Lập. Không mùng mền chiếu gối. Sáng dậy, muỗi đốt đỏ cả người. Chúng tôi đùa, muỗi Sài Gòn kinh quá! Sau này, mỗi lần gặp nhau, anh Thiện cũng hay nhắc lại kỷ niệm ấy. Cả hai cười vang”.
Tiên Long
(VnExpress 30/4)
Thứ Ba, 25 tháng 4, 2017
Sắc hoa ban Điện Biên
Hằng năm, cứ vào mùa tháng hai, ba âm lịch, những người yêu văn hoá vùng Tây Bắc lại rục rịch chuẩn bị cho cuộc hành trình ngược về Điện Biên để gặp lại một người bạn thân thiết: Hoa ban.
Nếu đi máy bay, mất khoảng một giờ đồng hồ trên máy bay ATR là bạn đã từ Hà Nội đáp xuống sân bay Điện Biên Phủ. Nhưng những người chăm đi du lịch thường chọn hành trình đường bộ, ngược quốc lộ 6 qua Hoà Bình, Sơn La, vượt qua những địa danh lịch sử: Dốc Cun, Tuần Giáo, Cò Nòi để lên với Điện Biên. Con đường lên Tây Bắc này thuộc loại hiểm trở nhất nước ta, phải những tay lái cứng mới đủ sức chinh phục. Nhưng cảnh vật trên đường thì tuyệt đẹp. Lên đến lưng con đèo Pha Đin quanh co dài 32, nếu đúng mùa hoa, bạn đã gặp bạt ngàn sắc trắng pha tím đẹp mê hoặc của hoa ban.
Hoa ban trắng chỉ mọc nhiều quanh thành phố Điện Biên Phủ và xuôi về hướng đèo Pha Đin. Ở hướng quốc lộ 12 thông về tỉnh Lai Châu mới, lại mọc toàn hoa ban đỏ. Cây hoa ban đã gắn bó với người Thái, H'Mông trên đất Điện Biên bao đời nay. Cứ mỗi mùa hoa nở, đồng bào bắt đầu đi phát nương, và tra hạt khi hoa tàn.
Nếu lên Điện Biên vào cuối mùa hoa ban, bạn sẽ được hưởng không khí tưng bừng của ngày lễ kỷ niệm chiến thắng Điện Biên lịch sử (7/5). Lúc đó, những di tích lịch sử quanh thành phố như Đồi A1, Nghĩa trang liệt sỹ đồi A1 và Nghĩa trang đồi Độc lập, tượng đài chiến thắng Điện Biên, bảo tàng chiến thắng, hầm tướng Đờ Cát...đều nườm nượp du khách, trong đó có rất nhiều cựu chiến binh về thăm chiến trường cũ.
Ngược theo con đường "vàng" số 28, dọc theo những triền núi xanh rì cây cối và thấp thoáng cánh hoa ban, bạn sẽ về thăm khu di tích sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ, vào tham quan hầm làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng bộ tham mưu. Đã 55 năm qua, nhưng nhân dân địa phương vẫn gìn giữ nguyên vẹn cả một cánh rừng toàn cây cổ thụ, vì từ đó đến nay, rừng đã mang tên Đại tướng mà bà con vô cùng kính trọng.
Cũng không xa thành phố, bạn sẽ được bước chân trên con đường kéo pháo vào trận địa năm xưa mới được tôn tạo. Có đến đây mới hình dung nỗ lực phi thường của chiến sỹ ta năm xưa, khi bí mật kéo pháo vào, kéo ra rồi lại kéo vào để bất ngờ dội bão lửa lên đầu quân Pháp, góp phần làm nên chiến thắng "lừng lấy năm châu, chấn động đại cầu".
Muốn tìm hiểu phong tục của người Thái Trắng Điện Biên, mời bạn vào bản cùng nhảy một điệu xoè với những cô gái xinh đẹp với trang phục váy đen, áo trắng lấp loá những hàng cúc bướm, để ăn nắm xôi nếp nương thơm dẻo nổi tiếng, bẻ con cá suối nướng chấm muối trộn mắc kén thơm lừng. Để tăng cường sức khoẻ, bạn nên đi vào khu nghỉ dưỡng Hua Pe, U Va; hồ Pa Khoang, Pe Luông, Huổi Phạ tắm nước khoáng. Còn thời gian, bạn cũng nên thăm những hang động kỳ thú như Pa Thơm (Điện Biên), Thẩm Púa (Tuần Giáo).
Nếu có cơ hội, khi trở về Hà Nội bạn nên lên xe ô tô đi dọc men triền sông Đà qua cầu Hang Tôm, theo đường 4D vòng lên Lào Cai qua đèo Hoàng Liên Sơn cheo leo vách núi. Cảnh sắc bên đường này còn này còn tươi đẹp hơn cả bên đường số 6, với những vạt rừng bạt ngàn sắc hoa ban đỏ, hoa mắc cọp. Chuyến đi của bạn sẽ trở thành lịch sử, vì không lâu nữa, khi nhà máy thuỷ điện Sơn La hoàn thành, một đoạn đường ấy sẽ nằm gọn trong lòng hồ sông Đà, như thị xã Lai Châu cũ mà bạn đi qua.
Một lần đến đã với Điện Biên, vẻ đẹp của những cánh hoa ban cùng nụ cười xinh xắn của cô gái Thái, hương gạo Điện Biên trên cánh đồng Mường Thanh trù phú hay mùi thơm của quả mắc kén... sẽ khiến bạn nhớ mãi. Để rồi mỗi năm tháng ba về, lòng lại thấy nao nao muốn giục bước chân lên đường ngược trở về miền Tây Bắc!
Tiên Long (Tạp chí Phong cách, số 01 2010)
Thứ Năm, 13 tháng 4, 2017
Chuyện vua Nguyễn - chúa Trịnh
Chuyện vua Lê, chúa Trịnh thì mọi người biết rồi, đại loại từ khi chúa Trịnh nắm quyền, thì vua Lê chỉ là bù nhìn, thậm chí đôi khi còn là cái gai trong mắt chúa, nên thỉnh thoảng, lại có vị vua hay thái tử bị chúa lôi ra giết.
Nhưng còn vua Nguyễn với chúa Trịnh thì sao? Vẫn có chuyện ghi lại đấy nhé. Đó là chuyện chép trong Trịnh gia thế phả do trưởng họ Trịnh ở Vĩnh Lộc là Trịnh Cơ vâng lệnh vua đầu nhà Nguyễn là Gia Long, khai báo năm 1802.
Lời mở đầu cuốn gia phả họ Trịnh này viết rằng khi vua Gia Long ra Bắc (1802), ông đã cho gọi tộc trưởng họ Trịnh – Trịnh Cơ – từ xứ Thanh ra Thăng Long và phán bảo rằng: "Họ nhà ngươi và họ ta là hai họ có thâm thù vì tổ họ ngươi đã giết tổ họ ta!".
Trịnh Cơ run rẩy nghĩ rằng mình và họ mình sẽ bị Gia Long “làm cỏ sạch gốc rễ” để trả thù. Nhưng mà không!,Vua Gia Long nói tiếp: "Nhưng họ nhà ngươi và họ ta đã từng là thông gia – thân gia. Ta sẽ lấy tình thân gia mà đối đãi với họ ngươi. Song họ ta ở Nam đã quá lâu, ta chẳng biết rõ gì về họ ngươi cả. Vậy ngươi hãy cung khai về gốc gác họ Trịnh trình cho ta biết!"
Trịnh Cơ mang gia phả cũ ra tham khảo và cứ theo sự thực viết ra (cố GS Hoàng Xuân Hãn rất khen ngợi bản gia phả nhà Trịnh này là trung thực, đã viết rõ gốc gác nghèo hèn và hành xử “xấu xa” của Trịnh Kiểm như ăn cắp gà, giết trộm trâu, ăn cắp ngựa…). Đọc xong Gia phả họ Trịnh, Gia Long đã phê ban cho họ Trịnh 200 mẫu ruộng công để dựng nên Trịnh điện làm nơi thờ tự các chúa Trịnh (nay làng Trịnh Điện bên bờ sông Mã có diện tích đúng 200 mẫu, 1 mẫu Trung bộ = 5.000m2).
Nhưng còn vua Nguyễn với chúa Trịnh thì sao? Vẫn có chuyện ghi lại đấy nhé. Đó là chuyện chép trong Trịnh gia thế phả do trưởng họ Trịnh ở Vĩnh Lộc là Trịnh Cơ vâng lệnh vua đầu nhà Nguyễn là Gia Long, khai báo năm 1802.
Lời mở đầu cuốn gia phả họ Trịnh này viết rằng khi vua Gia Long ra Bắc (1802), ông đã cho gọi tộc trưởng họ Trịnh – Trịnh Cơ – từ xứ Thanh ra Thăng Long và phán bảo rằng: "Họ nhà ngươi và họ ta là hai họ có thâm thù vì tổ họ ngươi đã giết tổ họ ta!".
Trịnh Cơ run rẩy nghĩ rằng mình và họ mình sẽ bị Gia Long “làm cỏ sạch gốc rễ” để trả thù. Nhưng mà không!,Vua Gia Long nói tiếp: "Nhưng họ nhà ngươi và họ ta đã từng là thông gia – thân gia. Ta sẽ lấy tình thân gia mà đối đãi với họ ngươi. Song họ ta ở Nam đã quá lâu, ta chẳng biết rõ gì về họ ngươi cả. Vậy ngươi hãy cung khai về gốc gác họ Trịnh trình cho ta biết!"
Trịnh Cơ mang gia phả cũ ra tham khảo và cứ theo sự thực viết ra (cố GS Hoàng Xuân Hãn rất khen ngợi bản gia phả nhà Trịnh này là trung thực, đã viết rõ gốc gác nghèo hèn và hành xử “xấu xa” của Trịnh Kiểm như ăn cắp gà, giết trộm trâu, ăn cắp ngựa…). Đọc xong Gia phả họ Trịnh, Gia Long đã phê ban cho họ Trịnh 200 mẫu ruộng công để dựng nên Trịnh điện làm nơi thờ tự các chúa Trịnh (nay làng Trịnh Điện bên bờ sông Mã có diện tích đúng 200 mẫu, 1 mẫu Trung bộ = 5.000m2).
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)







