Thứ Tư, 22 tháng 3, 2017

Bản án kỳ lạ, oan nghiệt giáng xuống đầu 2 đại công thần Lê Ngân, Lê Sát

Dưới thời vua Lê Thái Tông, cả 2 khai quốc công thần Lê Sát, Lê Ngân, tuy đều là bố vợ vua nhưng lần lượt bị sát hại, trong đó bản án dành cho Lê Ngân đặc biệt ly kỳ và oan khuất.


Sau khi Thái Tổ Lê Lợi mất năm 1433, Hoàng thái tử Lê Nguyên Long mới 10 tuổi lên nối ngôi, tức là vua Lê Thái Tông. Khi đó, quyền lực tập trung vào tay Tể tướng Lê Sát. Con gái của Lê Sát là Lê Ngọc Dao được vua lập làm Nguyên phi, nên uy quyền của Lê Sát khuynh đảo cả triều đình.

Theo Đại Việt thông sử, thì Lê Sát "là võ tướng không hiểu đại thể, các việc thường theo ý riêng, tính thẳng hay làm bừa, không nghĩ đến sau, lại là người nóng nảy" do đó dẫn đến nhiều lần làm mất lòng vị vua trẻ để rồi nhà vua xuống tay sát hại, nhiều người vẫn cho rằng ông bị chết oan.

Dù còn nhỏ tuổi, vua Lê Thái Tông đã tỏ ra xuất sắc trong việc giành quyền lực về tay mình. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1437, khi nhà vua được 17 tuổi, tháng 6, nhà vua xuống chiếu bắt Lê Sát, vì "thấy Lê Sát chuyên quyền".

Lê Sát vốn là người sách Lam Sơn, Thọ Xuân, Thanh Hóa, đồng hương với vua Lê Lợi, là người tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ đầu, lập nhiều chiến công hiển hách. Đến khi thành công, trong danh sách công trạng, ông được xếp thứ nhì, được phong Huyện thượng hầu.

Lê Ngân, Lê Sát đều chết theo cùng một kịch bản. Ảnh minh họa.
Trước khi giết Lê Sát, vua Lê Thái Tông đã có sự chuẩn bị rất cẩn thận. Vua cho gọi Trịnh Khả, người bị Lê Sát đẩy ra khỏi kinh thành vì không cùng phe cánh, về chỉ huy cấm binh ở kinh đô. Khi biết tin này, Lê Sát vào cung tâu với nhà vua lo là Khả sẽ hại mình, nhưng nhà vua không nói gì.

Nhà vua nhận tờ tâu về việc Lê Sát chuyên quyền, cho Hình quan xét xử. Lê Sát tâu với vua rằng: "Nay buộc cho thần cái tội chuyên quyền, thế là tội của thần do tiên đế ban cho".

Lê Văn Linh, Lê Ngân muốn gỡ tội cho Sát, nhà vua không nghe, xuống chiếu rằng: "Lê Sát tự chuyên giữ quyền bính, ghen người tài, giết Nhân Chú để tự ra oai của mình, truất Trịnh Khả để người ta phục, bãi chức của Ư Đài khiến đình thần không ai dám nói, đuổi Cầm Hổ ra nơi biên thùy để gián quan phải ngậm miệng.

Xem những việc làm ấy đều không phải là đạo làm tôi. Nay muốn khép vào luật hình để tỏ rõ phép nước, song vì là đại thần cố mệnh, có công với nhà nước, đặc cách khoan tha, nhưng phải bãi chức tước."

Đến tháng 7, nhà vua bắt Lê Sát phải tự tử, con gái ông bị phế làm thứ dân, vợ con và gia sản đều bị tịch thu.

Những người cùng phe hoặc từng nói đỡ tội cho ông cũng bị phạt: Tham đốc Lê Văn Linh bị giáng xuống làm Tả bộc xạ, Điện tiền đô kiểm điểm Lê Ê bị giáng xuống làm Đồng tổng quản lộ Quy Hóa. Hai người cùng bị truy đoạt tấm biển "công thần" được ban cho từ thời Lê Thái Tổ.

Năm 1453, Lê Sát mới được Lê Nhân Tông đại xá. Năm 1484, vua Lê Thánh Tông truy tặng ông chức Thái bảo, Cảnh quốc công.

Bản án kỳ lạ nhất lịch sử

Sau khi Lê Sát chết, chức tể tướng được trao cho Lê Ngân, vua cũng ban cho ông một người vợ lẽ của Lê Sát.

Lê Ngân là người ở Lam Sơn, Thọ Xuân, Thanh Hóa, theo Lê Lợi từ lúc khởi binh, cùng vua trải bao phen nằm gai nếm mật, từ lúc bị vây ở Ai Lao, khi hết lương ở Linh Sơn, hay lập chiến công trong các trận Bồ Đằng, Khả Lưu, Thuận Hóa, Tây Việt, và công cuộc chiếm lại thành Đông Đô.

Năm 1429, trong đợt xét công trạng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, ông được xếp hàng thứ tư trên danh sách Khai quốc công thần, được phong tước Á hầu.

Trước khi được phong Tể tướng, ông giữ chức Nhập nội Đại đô đốc, Phiêu kỵ Thượng tướng quân, Đặc tiến khai phủ nghi đồng tam ty, Thượng trụ Quốc thượng hầu.

Cùng với việc được thăng chức cho Lê Ngân, con gái ông là Chiêu nghi Lê Nhật Lệ cũng được nhà vua thăng làm Huệ phi. Tuy nhiên, có ai ngờ được, việc được nhà vua sủng ái lại chính là bản án tử hình được chuẩn bị sẵn cho Lê Ngân theo cùng một kịch bản như với Lê Sát.

Chỉ sau khi Lê Sát bị giết có 4 tháng, tháng 11 cùng năm, Lê Ngân cũng bị bắt và buộc phải tự sát, con gái ông cũng bị vua phế bỏ.

Tội danh của Lê Ngân có lẽ là tội danh kỳ lạ nhất trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam. 

Không phải là tội phản loạn, không phải sự lạm quyền như Lê Sát, mà là một tội về "mê tín dị đoan".

Nguyên Lê Ngân bị có người gièm pha là lập bàn thờ Phật ở trong phủ để cầu cho con gái được vua yêu. Thời Lê, triều đình vốn sùng Nho giáo, bài Phật giáo.

Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: Vua ngự ra ở cửa Đông thành, sai Thái giám Đỗ Khuyển dẫn 50 võ sĩ lục soát nhà Lê Ngân, bắt được tượng Phật và các thứ vàng bạc, tơ lụa.

Ngày hôm sau, Lê Ngân vào chầu, bỏ mũ ra để tạ tội, trần tình rằng: "Trước kia thần theo khởi nghĩa ở Lam Kinh, nay thần cũng nhiều bệnh, thầy bói bảo là trong nhà thần ở, trước đây có miếu thờ Phật, vì để ô uế, nên xảy ra tai họa. Cho nên thần làm lại để thờ cúng".

Sau đó, Lê Ngân cho rằng: "Người vợ lẽ đã bị bỏ của thần là Nguyễn thị và người vợ lẽ của Lê Sát là Trần thị đã ban cho thần, cả hai đứa đều thù oán thần, cùng với đứa gia nô điêu ngoa của thần thêu dệt bày đặt cho ra chuyện đó.

Tiên đế biết rõ lòng thần, thường vẫn ưu ái bao dung. Nay gân sức của thần đã mỏi mệt lắm rồi, xin cho được về quê để sống hết tuổi tàn còn lại. Nếu nghe những người xung quanh mà tra tấn người nhà của thần, khi bị đánh đau quá, nhất định chúng sẽ khai khác đi, thì thân thần sợ không giữ được, xin bệ hạ nghĩ lại cho".

Vua không nghe, vẫn sai tra khảo nô tì trong nhà ông, rồi bắt ông tự chết ở nhà, tịch thu gia sản, giáng Huệ phi Nhật Lệ, con gái Lê Ngân làm Tư dung.

Lê Ngân đành phải tự kết liễu cuộc đời đầy võ công hiển hách của mình bằng cách treo cổ. Mụ đồng Nguyễn thị bị đày ra châu xa. Thầy phù thủy Trần Văn Phương bị đồ làm lính ở phường nuôi voi.

Năm 1435, Lê Thái Tông mở khoa thi, lấy đỗ 2 người và đặc biệt, năm 1442, mở khoa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với lịch sử khoa cử Nho giáo, những người đỗ Thái học sinh được đổi là Tiến sĩ, và cũng bắt đầu tục khắc tên tiến sĩ vào bia Văn Miếu từ đó.

Năm 1439 và 1441, nhà vua thân chinh cầm quân bình định miền Tây Bắc, dẹp yên nhiều cuộc chống đối.

Tháng 7 năm 1442, Lê Thái Tông mới 19 tuổi, đã mất đột ngột tại trang trại Lệ Chi Viên, Hải Dương, kéo theo sự thảm sát đối với gia đình một vị khai quốc công thần nữa là Nguyễn Trãi.

May cho hậu duệ của Lê Ngân là đến năm 1448, đời vua Lê Nhân Tông, các đại thần tâu với vua xin cho con của ông làm Đội trưởng quân Bảo ứng.

Đến đời vua Lê Nhân Tông, năm 1453, nhà vua đại xá, cấp cho con cháu Lê Ngân, Lê Sát, Lê Khả, Lê Khiêm, Trịnh Khắc Phục mỗi nhà 100 mẫu ruộng quan điền.

Năm 1484, Lê Thánh Tông truy phong Lê Ngân chức Thái phó, Hoằng quốc công.

Lê Tiên Long
(Trí thức trẻ)

"Hồi tỵ" - Luật cấm cha - con làm quan một chỗ

Dư luận đang xôn xao vụ có tới 8 người trong gia đình Bí thư Tỉnh ủy Triệu Tài Vinh làm lãnh đạo. Ông Vinh khẳng định mình không chỉ đạo đề bạt, bổ nhiệm người nhà. Mọi việc diễn ra đúng quy trình. Tuy nhiên, nhân việc này, chúng tôi xin giới thiệu cách người xưa đã ngăn chặn hậu quả của việc có thể lạm quyền "gia đình trị" bằng một luật hết sức độc đáo.
Đó chính là Luật Hồi tỵ.

Luật Hồi tỵ phong kiến quy định: "Không được cai trị ở nguyên quán, trú quán, lấy vợ, kết hôn, làm thông gia nơi mình làm quan".

Ảnh minh họa: Quan lại triều Nguyễn ở Huế.
Khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới thành lập, chính phủ đã tìm cách ngăn chặn tâm lý "một người làm quan, cả họ được nhờ", tình trạng bè cánh, cục bộ trong cán bộ. 

Trong Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ viết ngày 1 tháng 3 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thẳng thắn phê bình, kiểm thảo "Những đồng chí còn giữ thói một người làm quan cả họ được nhờ, đem bà con, bạn hữu đặt vào chức này việc kia, làm được hay không, mặc kệ. Hỏng việc, Đoàn thể chịu, cốt cho bà con, bạn hữu có địa vị là được".

Tuy nhiên, không chỉ nhà nước cách mạng mới quan tâm đến việc chống bè cánh, ưu ái người nhà, bà con. Từ thời phong kiến, việc này cũng được thực hiện khá nghiêm ngặt thông qua luật "Hồi tỵ".

Luật Hồi tỵ được áp dụng ở nhà nước phong kiến Việt Nam trong các thời Lê, Nguyễn. "Hồi tỵ", theo Hán Việt từ điển của học giả Đào Duy Anh, giải nghĩa là "tránh đi". "Hồi" là trở về, "tỵ" là lánh đi (như trong chữ tỵ nạn). Tức là nếu được bổ nhiệm về bản quán thì phải tránh đi.

Luật Hồi tỵ được ban hành đầu tiên dưới thời vua Lê Thánh Tông. Trong bộ Lê triều Hình luật (còn gọi là Luật Hồng Đức) có quy định:


"Quan lại không được lấy vợ, kết hôn, làm thông gia ở nơi mình cai quản; cũng như không được tậu đất, vườn, ruộng, nhà ở nơi mình làm quan lớn, không được dùng người cùng quê làm người giúp việc".

Quy định được áp dụng từ việc cắt đặt xã quan ở các làng xã. Theo Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ, thực lục nhà Lê), thì năm 1488, Vua Lê Thánh Tông xuống dụ quy định:

"Từ nay các quan phủ, huyện, châu xét đặt xã trưởng, hễ là anh em ruột, anh em con chú, con bác, bác cháu, cậu cháu với nhau thì chỉ cho một người làm xã trưởng, không được cho cả hai cùng làm để trừ mối tội bè phái hùa nhau".
Đến năm 1497, vua tiếp tục có dụ quy định bổ sung: "Các viên quan quản quân, quản dân nếu người nào có quê quán ở ngay phủ, huyện mình cai trị, có nhà ở nha môn mình làm việc, thì Bộ lại điều động đi nơi khác, chọn người khác bổ thay".

Sang đến thời Nguyễn, sau khi vua Gia Long thiết lập bộ máy nhà nước, đến thời Minh Mạng, để củng cố nền cai trị, đảm bảo nền hành chính được vận hành hiệu quả, luật hồi tỵ còn triệt để hơn, được mở rộng phạm vi, đối tượng áp dụng và bổ sung những quy định mới.

Năm 1831, vua Minh Mạng ban hành Luật Hồi tỵ gồm các quy định cụ thể:
Khi bố trí quan về trị nhậm tác các địa phương cần phải tránh những nơi: Quê gốc (quê cha) là nơi có quan hệ họ nội nhiều đời; Trú quán là nơi bản thân đã ở lâu, học hành, sinh hoạt; Quê ngoại (bao gồm quê mẹ, quê vợ là nơi theo học trước đây). Ai man trá các điều này sẽ bị nghiêm trị.

Ngoài các điểm chung như luật hồi tỵ thời Lê Thánh Tông, vua Minh Mạng còn có nhiều quy định tích cực và triệt để hơn, như:

Các dịch lại ở các nha môn, các bộ ở Kinh đô và các tỉnh là bố con, anh em ruột, anh em con chú con bác với nhau thì phải tách ra, đổi bổ đi nơi khác.


Các quan lại không được làm quan ở nơi cư trú (nơi ở một thời gian lâu), ở quê vợ, quê mẹ mình; thậm chí cả nơi học tập lúc nhỏ hoặc lúc trẻ tuổi. Các lại mục, thông lại cũng không được làm việc ở phủ, huyện là quê hương của mình.

Các lại mục, thông lại các nha phủ thuộc phủ huyện là người cùng làng cũng phải chuyển bổ đi nơi khác.

Các quan viên từ Tham biện trở lên ở các trấn, tỉnh về Kinh đô dự đình nghị (họp bàn để quyết định một vấn đề), song trong các cuộc họp có bàn việc liên quan đến địa phương mà mình trị nhậm thì không được vào dự.


Đến năm 1836, Luật Hồi tỵ còn được bổ sung những qui định khắt khe hơn: Các quan đầu tỉnh như Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát, Lãnh binh, Đốc học đều không được cử những người cùng chung một quê. Trong từng Bộ, Nha, Sở, Cục không được bố trí những người có quan hệ cha – con, anh – em, thông gia, thầy – trò, họ hàng...


Khi thanh tra, thụ lý án, nếu trong đó có tình tiết liên quan đến người thân phải bẩm báo để triều đình cử người khác thay thế.


Quan lại không được coi thi, chấm thi ở nơi nào có những người ruột thịt, thân quen dự thi. Nếu có, phải tâu trình thay người khác coi, chấm thi. Nghiêm cấm các quan đầu tỉnh đặt quan hệ giao du, kết thân, kết hôn với phụ nữ nơi mình trị nhậm, cấm tậu nhà, tậu ruộng… trong địa hạt cai quản của mình…


Tuy nhiên, không phải lúc nào các quy định này cũng được tuân thủ triệt để.


Như tại tỉnh Thanh Hóa, do là đất "thang mộc" (quê hương phát tích của nhà Nguyễn), nên chức Tổng đốc thường do một người trong họ Tôn Thất – con cháu các chúa Nguyễn, tức là quê gốc từ Thanh Hóa – nắm giữ, thậm chí chức tri phủ Hà Trung, địa phương có quê các vua nhà Nguyễn, cũng thuộc về người họ Tôn Thất.

Lê Tiên Long

(Trí thức trẻ)

Bà công chúa là điệp viên đắc lực nhất của vua Gia Long

Hoạt động lật đổ triều đình Tây Sơn của vua Gia Long có công lớn của một bà công chúa, người đã tổ chức hoạt động trinh thám từ thành Phú Xuân đến tận Quy Nhơn.


Bà là Công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Tuyên (1737 - 1809), con gái thứ 2 của Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát - chúa thứ 8 của Đàng Trong, em của Vương tử Nguyễn Phúc Luân (cha vua Gia Long) và là chị của chúa Nguyễn Phúc Thuần.
Ảnh minh họa: Trang phục phụ nữ quyền quý thời chúa Nguyễn.
Mẹ bà là Tả Cung tần Tống thị. Bà được chúa cho lấy Tiết chế Chưởng doanh Nguyễn Cửu Thống, dòng dõi Võ tướng Nguyễn Cửu Kiều.

Trong sự biến năm Giáp Ngọ (1774), khi quân Trịnh tấn công vào Phú Xuân, Nguyễn Cửu Thống chết trận, bà ở lại xã Vân Dương (thuộc huyện Hương Thủy) cắt tóc đi tu, người ta gọi là sư cô Vân Dương.

Khi quân Tây Sơn tiến ra, chiếm Phú Xuân, phá hủy lăng tẩm các chúa Nguyễn, bà sai con rể là Nguyễn Đức Tuấn cùng sư già thân tín bí mật đến các xã Định Môn, Kim Ngọc, Cư Chánh, dặn người dân sở tại theo dõi tìm cách bảo hộ lấy hài cốt.

Nguyễn Ngọc Huyên, người làng Cư Chánh đã làm theo lời bà và giữ gìn được một phần hài cốt của Nguyễn Phúc Luân để sau này lập công với Gia Long.

Năm Tân Hợi (1791) bà ngầm sai người thân tín, tên là Thiện, đáp thuyền buôn vào Gia Định gặp chúa Nguyễn Phúc Ánh, đem việc ấy tâu lên.

Thiện cũng đem tình hình quân Tây Sơn động tĩnh ra sao, binh lương nhiều, ít thế nào, tâu bày từng việc một... Bà cũng gửi cho chúa bài Hoài Nam khúc do Hoàng Quang, người xã Thai Dương đã soạn để trình bày cho biết lòng dân nhớ mong nhà Nguyễn.

Được thư của bà viết, chúa Nguyễn Phúc Ánh rất vui. Bấy giờ nếu có sai người đi lại trinh thám tình hình Tây Sơn đều bí mật cư trú ở nhà bà.

Chúa Nguyễn Ánh.
Bà lại lấy tiền của giao cho Nguyễn Đức Tuấn đi chiêu dụ những nhân dân và quan lính Tây Sơn khuyên họ quy thuận. Chúa cũng sai người đưa mật dụ và giấy đóng dấu để trống giao cho bà tùy nghi viết chỉ sai, chỉ truyền để cấp cho người làm việc.

Sau, việc bị lộ, Đô đốc triều Tây Sơn là Dật đem quân đến vây nhà. May sao những người được mật sai bấy giờ không ở đó nên bà mới được an toàn.

Quân của đô đốc Dật tìm mãi, không bắt được ai bèn cướp của cải mà đi. Năm Đinh Tỵ (1797) Binh bộ nhà Tây Sơn là Nguyễn Đại Phác, được cử đi trấn thủ thành Quy Nhơn.

Đức Tuấn có quen Phác, biết Phác ngầm có ý quy phục chúa Nguyễn, nên lúc Phác đi, bà sai Đức Tuấn đi tiễn, dọc đường, đọc câu "Thời hồ! Thời hổ, bất tái lai" (Thời cơ ! Thời cơ ! Nếu bỏ qua thì nó không trở lại nữa) của Khoái Triệt, Phác hiểu ý, gật đầu đi.

Đô đốc Tây Sơn Lê Chất là tướng giỏi, nhưng do sau khi vua Quang Trung mất, nội bộ triều Tây Sơn lục đục, vua Quang Toản nghi ngờ bố vợ Chất là Lê Trung có mưu đồ phản loạn, lệnh cho bắt mà giết đi, rồi sai lùng bắt Chất rất gấp.

Chất phải chọn lấy một tên đầy tớ có mặt mũi gần giống mình, cho uống thuốc độc chết khiến cho quân của Quang Toản tưởng mình đã tự tử, rồi trốn vào ẩn náu trong núi Trà Bồng, miền núi của tỉnh Quảng Ngãi.

Bà được tin, bèn sai người thân tín tên là Hậu, đi dụ Chất về hàng, sau Lê Chất làm quan nhà Nguyễn được phong đến tước Quận công, giữ chức Khâm sai chưởng hậu quân Bình Tây tướng quân, rồi được cử làm Tổng trấn Bắc Thành từ 1818 đến 1826.

Năm 1798, người của công chúa do thám biết quân Tây Sơn đem hết quân đi Quy Nhơn, còn đô thành thì trống rỗng, bà bèn sai vẽ hình thế đồn sở cửa biển Tư Hiền và Thuận An, mật sai bọn Phạm Hữu Tâm và Nguyễn Khả Bằng đi đường miền thượng đến hành tại (chỗ ở của vua chúa trong khi đi đường) đem việc tâu lên chúa Nguyễn Phúc Ánh.

Năm Kỷ Mùi (1799) mùa hạ, Đoàn Văn Cát sai chị của Phác là Thị Huấn mang sắc chỉ vào thành Quy Nhơn dụ hàng. Phác được sắc chỉ, lập tức cùng Tổng quản Lê Văn Thanh đem thành Quy Nhơn ra hàng.

Năm Tân Dậu (1801) mùa hạ, chúa Nguyễn Phúc Ánh lấy lại được Kinh thành cũ lập tức sai Tống Phước Lương đi đón bà đến thuyền ngự. Bà khóc lạy, chúa cũng ôm lấy cô ruột mà khóc.

Sau khi lên ngôi, vua Gia Long thường đến chơi nhà bà, ban thưởng rất hậu. Đầu đời Gia Long (1802) ưu cấp cho lương bổng hàng năm, và cho làm phủ đệ ngay tại chỗ bà đang ở. Vua lại cho bà được tự chiêu mộ người lập đội thường ban làm tùy binh.

Năm Gia Long năm thứ 8 (1809) bà mất, thọ 72 tuổi. Vua sai quan lo liệu việc tang, táng ở xã Dương Xuân, cấp cho 5 người coi mộ.

Sau, vua cho lấy chỗ ở của bà làm đền thờ, mỗi năm, đến ngày giỗ, cấp cho gia đình 30 quan tiền. Tự Đức năm thứ 3 (1850), vua cho ấm thụ người chắt của bà là Nguyễn Cửu Ân làm Bá hộ,coi việc thờ cúng.

Tài liệu tham khảo:
Đại Nam Liệt truyện, Tiền Biên, tập 1, quyển 2 - Các con gái Thế tông Hoàng đế
Nguyễn Phúc tộc Thế phả
Hoàng Việt hưng long chí, Ngô Giáp Đậu

Lê Tiên Long
(Tri thức trẻ)

Những tên phố cổ Hà Nội ít người hiểu nghĩa (2)

Phố Hàng Ngang vốn là nơi buôn bán của người Hoa gốc Quảng Đông, họ làm tường và cổng chắn ngang cả phố để đảm bảo an ninh. Thời Pháp thuộc, phố có tên là rue des Cantonnais (phố của người Quảng Đông).

Sau bài viết “Những tên phố cổ Hà Nội ít người hiểu nghĩa”, rất nhiều độc giả đã đăng bình luận, thắc mắc vì sao lại có tên phố là Hàng Ngang. Một số độc giả đã suy luận phố này “chuyên bán rượu ngang” hoặc “bán ghế ngang”.

Thực ra, theo Từ điển Hà Nội địa danh của tác giả Bùi Thiết, do ở hai đầu phố trước đây có các bức tường chắn ngang, ở giữa là cổng gỗ, ban ngày mở ra, ban đêm đóng lại nên gọi là Hàng Ngang. Đây vốn là nơi buôn bán của người Hoa gốc Quảng Đông, họ làm cổng cho cả phố để đảm bảo an ninh. Thời Pháp thuộc, phố có tên là rue des Cantonnais (phố của người Quảng Đông).

Phố Hàng Ngang.
Một bức tranh từ thời Pháp còn lưu lại hình ảnh bức tường và cánh cổng ngang phố này, với chú thích rõ ràng "Porte de la rue des Cantonnais” (Cổng phố của người Quảng Đông). Trước đây, phố này là nơi Hoa kiều bán các mặt hàng chè, thuốc, vải vóc.

Cùng với tên phố Hàng Ngang, ở cửa Nam thành cổ Hà Nội còn có phố Đình Ngang, với lý giải: Vào thời Lê, phố này có cái đình chắn ngang giữa đường, dân gian gọi là “Hoành Đình”. Sau này đình bị phá dỡ, nhiều người cho rằng, dấu tích của đình chính là bãi đất rộng ở đầu phố, hiện dùng làm bãi đỗ xe.

Còn phố Hàng Đào, nối liền phố Hàng Ngang xuống Hồ Hoàn Kiếm, là nơi chuyên bán lụa là vóc nhiễu của các thương nhân người Việt. Phố có tên như vậy, vì từ thời Lê, đây là khu vực chuyên nghề nhuộm màu cho vải, trong đó chủ yếu là nhuộm điều (tức màu hồng đào).

Phố Hàng Đào.
Có thể nhiều người chưa biết, Phố Hàng Gai trước đây bán loại gai gì? Đó là các loại dây tước từ vỏ cây gai, cây đay để đan võng, bện thừng. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc, sau này, các cửa hàng bán gai đã chuyển về phố Bát Đàn.

Từ phố Hàng Gai đi ra Hàng Quạt, có phố Tố Tịch. Nhiều người nhầm tưởng phố đặt theo tên người. Thực ra Tố Tịch, chữ Hán nghĩa là chiếu trắng. Có lẽ, tên phố chỉ mặt hàng người dân ở đây buôn bán từ thời xưa.

Ở ngang phố Tạ Hiện, có ngõ Hài Tượng. Nghĩa chữ Hán thì hài là giày, tượng là thợ, Hài Tượng là phố của những người thợ làm giày. Đây là nơi tập trung của những người thợ làm nghề thuộc da, đóng giày, khâu hài gốc từ làng Chắm, xã Phong Lâm, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương di cư lên. Ngày xưa ngõ này thông sang phố Hàng Giầy, cũng là phố chung một nghề của những người thợ làng Chắm.

Một số tên phố cho biết về bộ máy hành chính của kinh thành Thăng Long xưa, như các phố Phủ Doãn, Ngõ Huyện, Thọ Xương.

Thời Lê, đứng đầu phủ Phụng Thiên là viên quan Phủ Doãn (tương đương UBND thành phố Hà Nội bây giờ) đặt trụ sở ở phố Phủ Doãn ngày nay.

Phủ Phụng Thiên gồm hai huyện Quảng Đức và Vĩnh Xương. Huyện Vĩnh Xương đến thời Nguyễn đổi tên thành huyện Thọ Xương, bao gồm phần đất của quận Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng và một phần quận Đống Đa. Khu vực đặt sở lỵ của huyện Thọ Xương sau này có tên là ngõ Thọ Xương. Con ngõ cạnh đó có tên Ngõ Huyện cùng lý do. Trước đây, cả hai ngõ này đều có tên là Ngõ Huyện.

Từ phố Phủ Doãn sang phố Nhà Chung có phố Chân Cầm. Tên phố này ghép từ tên hai thôn ngày xưa là Chân Tiên và Minh Cầm.

Dọc phố Phủ Doãn ngược lên phía Bắc là phố Đường Thành. Đây là con đường nằm bên tường thành Hà Nội xưa. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” của tác giả Giang Quân, do phố chạy qua cửa Chính Đông thành cổ nên trước đây có tên là phố Cửa Thành. Thời Pháp thuộc gọi phố này là Rue de la Citadelle (phố Thành). Sau Cách mạng Tháng Tám, phố chính thức được đặt tên là Phố Đường Thành.

Trên phố Đường Thành có ngõ Tạm Thương. Tên ngõ này có khoảng đầu thế kỷ 19, dưới thời nhà Nguyễn. Ở đây có dựng một cái kho để chứa tạm thóc thuế do dân nộp trước khi chuyển vào kho chính, gọi là kho Trạm Thương, sau nhân dân thấy thóc chứa ở đây mới là tạm thời nên gọi luôn là kho Tạm Thương rồi trở thành tên ngõ từ lúc nào không rõ.

Từ phố Đường Thành (cạnh chợ Hàng Da) đến phố Phùng Hưng có Ngõ Trạm. Đây là nơi có một trạm dịch, chuyên chuyển phát công văn từ trong thành Hà Nội đi các tỉnh.

Từ phố Hàng Mã thông sang Hàng Vải có phố Cổng Đục do đoạn tường thành ở đây bị đục ra làm cổng để đi lại.

Phố Lò Rèn xưa.
Hà Nội còn có phố Hàng Rươi, nhiều người băn khoăn: Rươi mỗi năm chỉ có một mùa, là hai tháng 9, 10 cuối mùa thu, vậy thời gian còn lại trong năm, các cửa hàng ở phố này bán gì? Điều này được giải thích là: Những ngày còn lại trong năm, các nhà buôn trên phố hay bán mắm rươi.

Lê Tiên Long

(VnExpress 11/12/2016)

Những tên phố cổ Hà Nội ít người hiểu nghĩa (1)

Không nhiều người trẻ ngày nay có thể hiểu Lò Sũ nghĩa là gì, Hàng Chĩnh, Hàng Đẫy bán gì.

Hà Nội có trên 40 tên phố bắt đầu bằng từ "Hàng". Gần trăm năm trước, mỗi phố "Hàng" bán một loại mặt hàng, một số phố vẫn còn truyền thống như Hàng Chiếu, Hàng Thiếc, Hàng Mã, Hàng Đào (bán quần áo), Thuốc Bắc…  

Tuy nhiên, đa số phố cổ nay không chỉ kinh doanh một mặt hàng như ngày xưa nữa, hoặc đã chuyển sang kinh doanh mặt hàng khác. Do đó, nhiều từ riêng trong các tên cổ không còn được dùng thường xuyên, khiến nhiều người, nhất là lớp trẻ, không hiểu được ý nghĩa.

Như phố Lò Sũ, ít người biết ý nghĩa của tên phố này là phố… bán quan tài. Chữ “sũ”, tiếng Việt cổ, nghĩa là áo quan. Thợ sũ ở phố này thờ ông tổ nghề mộc và nghề rèn, bởi những người thợ sũ đều xuất thân từ nghề mộc và nghề rèn. Trong khi đó, phố Hàng Hòm không phải là nơi bán quan tài mà chuyên bán các loại hòm gỗ đựng quần áo, đồ đạc, cũng như các loại tráp, đồ gỗ sơn khác.

Nhiều người trẻ chắc sẽ phải ngẫm nghĩ một lúc với tên phố Hàng Chĩnh. Chĩnh là một loại vật đựng bằng sành, miệng và đáy nhỏ, bụng phình to giống cái chum nhưng kích thước nhỏ hơn. Chĩnh thường dùng để đựng mắm, tương, cũng có thể đựng gạo giống cái hũ, như trong câu tục ngữ "chuột sa chĩnh gạo". Trong tryện cổ tích Tấm Cám, mẹ Cám có câu chê Tấm: “Chuông khánh còn chẳng ăn ai, nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bụi tre”, thì mảnh chĩnh cũng như mảnh sành vậy, chỉ là  đồ bỏ đi, không giá trị. Phố Hàng Chĩnh xưa vẫn bán đủ các loại vật đựng bằng sành khác như chum, vại, hũ, vò...

Phố Hàng Chĩnh xưa kia chuyên bán chĩnh. Ảnh tư liệu.
Phố Hàng Đẫy, nay được đặt tên là Nguyễn Thái Học, có sân vận động Hàng Đẫy trước kia lớn nhất Hà Nội, ngày xưa chuyên bán đẫy. Đẫy là một loại vật đựng, làm bằng vải như cái túi, cái bị, hoặc tay nải. Người Việt xưa đi xa thường đựng hành lý trong cái đẫy, khoác vào vai như ta đeo balô, túi bây giờ.

Còn Hàng Bồ, là phố ngày xưa bán những chiếc bồ đan bằng tre, hình trụ, trên miệng có nẹp tre, to thì đựng thóc trong kho, nhỏ thì đựng muối trong bếp. Xưa đơn vị đo không xác định hay được tính bằng bồ, như "ăn hết bồ muối mới hiểu lòng dạ nhau" hay "học hết ba bồ chữ của thầy". Sau này khi có các vật đựng bằng sành, sứ, thủy tinh, rồi đến bằng nhựa như hiện nay, thì những cái bồ dần biết mất khỏi cuộc sống người Việt.
Phố Mã Mây.

Đoạn phố Thợ Nhuộm nối ra Bà Triệu xưa có tên là phố Hàng Lam, vốn cũng cùng nhóm với phố Thợ Nhuộm, vì nơi đây tập trung thợ chuyên nhuộm quần áo vải vóc sang màu lam.

Phố Hàng Chai có tên khá muộn, theo tài liệu của nhà giáo chuyên nghiên cứu về Hà Nội Nguyễn Văn Uẩn, thì thời gian những năm 1920-1930, dân trong ngõ đa số là người nghèo sinh sống về nghề “ve chai”, đi rong mua bán các thứ phế liệu, chai lọ, đem về tập kết ở phố mà khiến phố có tên như vậy.


Phố Mã Mây, nếu muốn suy ra chuyên bán đồ gì thì khá khó. Bởi phố có tên như vậy do ghép từ Hàng Mã và Hàng Mây.

Trong khi đó, đoạn Đường Thành rẽ ra Hàng Điếu có phố tên là Nhà Hỏa. Phố có tên này do có đền thờ Hỏa Thần, để cầu xin thần phù hộ tránh cho nhân dân khỏi các cơn hỏa hoạn. Đền được lập khoảng đầu triều Nguyễn, có ý kiến cho rằng đây là ngôi đền thờ thần lửa duy nhất tại Việt Nam. Ở đền này có quả chuông lớn để báo động khi có cháy. Do đó, con phố này được gọi là phố Nhà Hỏa.

Còn tên phố Hàng Bè cho ta biết, xưa kia nơi đây vẫn là bờ sông Hồng, tức là các phố Nguyễn Hữu Huân, Hàng Tre, Trần Quang Khải ngày xưa nằm dưới lòng sông hết. Nơi này là bến thuyền với nhiều bè tre, nứa, gỗ cập bờ để bán hàng nên cũng trở thành tên.

Lê Tiên Long

(VnExpress 4/12/2016)

Vị tổng trấn cho xây Khuê Văn Các, chợ Đồng Xuân

Khuê Văn Các, chợ Đồng Xuân, cột cờ…, các công trình biểu tượng của Hà Nội đều được xây dựng dưới thời Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn Bắc thành, khởi công từ những năm 1804-1805.

Nguyễn Văn Thành là khai quốc công thần của vua Gia Long, có quân công hạng nhất, từng được giao giữ chức Khâm sai Chưởng Tiền quân, Bình Tây đại tướng quân, tước Quận công. Về văn nghiệp, ông nổi tiếng ở vai trò Tổng tài soạn thảo Hoàng Việt luật lệ (thường được gọi là bộ luật Gia Long) và Tổng tài biên soạn Quốc triều thực lục. Trong số nhân vật dưới thời vua Gia Long, hiếm có vị quan nào văn võ toàn tài như vậy.

Nguyễn Văn Thành sinh năm 1758, tại Gia Định, quê gốc ở Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế. Đại Nam thực lục, bộ sách ghi chép sự tích các nhân vật nổi bật thời nhà Nguyễn (Sơ tập, quyển 21), nêu rõ: "Thành trang mạo đẹp đẽ, tính trầm nghị, thích đọc sách, tài võ nghệ". Từ năm 1773, ông cùng cha là Nguyễn Văn Hiền theo chúa Nguyễn Phúc Thuần chống lại quân Tây Sơn, sau đó theo phò Nguyễn Ánh cho đến khi thống nhất đất nước năm 1802.

Tượng Tổng trấn Nguyễn Văn Thành tại một ngôi miếu thuộc Đại Nội Huế. Ảnh: wikipedia.
Nhiều câu chuyện được chép kể về công trạng của Nguyễn Văn Thành, như khi phụ tá cha đi lấy thóc ở Sông Cầu (Phú Yên), bị quân Tây Sơn phục kích, ông lùi lại sau trận, sai người đội thóc giơ đòn gánh lên làm vũ khí, treo áo làm cờ, đánh trống hò reo giả làm quân cứu viện, khiến quân Tây Sơn phải lui binh.

Năm 1787, Nguyễn Ánh bị đánh thua, phải chạy ra đảo Thổ Chu, bị hết lương ăn, Nguyễn Văn Thành đem quân cướp thuyền buôn của Hạ Châu đi qua. Bị lái buôn chống cự rất dữ, ông cũng bị vài vết thương nhưng vẫn cố nhảy lên cướp được thuyền gạo mang về cho quân ăn.

Trong những chiến dịch cuối cùng của Nguyễn Ánh đánh lại nhà Tây Sơn, Nguyễn Văn Thành được trao quyền Tiết chế, từ Nguyễn Huỳnh Đức trở xuống đều chịu quyền sai khiến. Vua Gia Long lên ngôi, ông được giao giữ chức Tổng trấn Bắc thành, cai quản toàn bộ các tỉnh miền Bắc từ Ninh Bình trở ra, với lời phủ dụ "Việc Bắc Thành đều giao cho ngươi cả". Ông cai quản Bắc thành cho đến năm 1810.

Khi nhậm chức, ông “phủ trăm họ, chiêu dụ hào kiệt, những Hương cống Tiến sĩ đời Lê đều đến cửa, ông lấy lễ hậu đãi, nên ai cũng vui làm việc”. Trong những công việc cụ thể, ông cho quy hoạch lại thành Thăng Long, trong Hoàng thành, lấy cửa Đoan Môn, điện Kính Thiên làm chuẩn, phía trước dựng cột cờ gọi là kỳ đài cao một trăm thước ta (40 m), lấy đó làm hiệu lệnh trong quân.

Cột cờ bắt đầu dựng năm 1805, mãi đến năm 1812 mới hoàn thành. Kiến trúc cột cờ bao gồm ba tầng đế và một thân cột, hiện vẫn được coi là một trong những biểu tượng của Hà Nội.

Về việc hoạch định phố phường, ông chia các doanh, vệ ngang dọc như bàn cờ, đặt ngôi chợ lớn ở cửa chính Đông (chợ Đồng Xuân ngày nay), phân chia quán xá, đường đi thật vuông, thẳng. Chợ lúc đầu chỉ làm bằng tre gỗ, mãi đến thời Pháp thuộc mới được xây bằng gạch với những hồi tường vòm hiện nay.

Ông cũng cho tu bổ Văn Miếu, xây thêm Khuê Văn Các, với kiến trúc đặc sắc dạng cổ lầu, tầng gác bên trên là những kết cấu bằng gỗ, bốn góc có hàng lan can bằng gỗ tiện, mái ngói được nâng bởi những giá gỗ đơn giản, vững chắc mà thanh thoát. Cửa và thanh gỗ tạo hình sao Khuê tỏa sáng, tượng trưng cho văn học. Đây cũng là biểu tượng đặc trưng cho thành phố Hà Nội.

Khuê Văn Các, biểu tượng của Hà Nội.
Tổng trấn Nguyễn Văn Thành cũng là người đề cập đến quy định “nhiệm kỳ” cho quan lại: “Thành dâng sớ, xin định 3 năm làm 1 khóa, quan phủ huyện 3 năm không có lỗi điệu bổ chức khác. Đến 6 năm mới xét giỏi kém định truất nhắc”.

Sử nhà Nguyễn khen ngợi Nguyễn Văn Thành là người "Biết chữ, hiểu nghĩa sách, biết đại thể, ở trong chư tướng vua trọng Thành hơn cả, không cứ việc lớn việc nhỏ đều hỏi để quyết đoán. Mỗi khi ông đến chầu, vua cho ngồi thong dong hỏi han, ông cũng đem hết sức hiểu biết tiềm tàng, tình hình ngoài biên, sự đau khổ của dân, kế hoạch nhà nước, mưu kế việc binh, biết điều gì là nói hết, cũng nhiều bổ ích".

Về tài cầm binh, Tiền quân Nguyễn Văn Thành là vị tướng "phân tích kỹ lưỡng, đâu là điểm mạnh, đâu là thế yếu, rồi mới quyết đoán, lúc tiến, khi lui nhằm giảm thiểu hao tổn tướng sĩ”.

Khi lâm trận, ông “dụng binh mưu lược rồi mới đánh cho nên ít khi thua”. Đến khi đảm đương công việc Tổng trấn Bắc Thành thì được khen là “không động đến lời nói nét mặt mà trộm giặc đều yên, bày mưu chốn miếu đường, bày tâu sự nghị đều được thi hành, có thể gọi là người có mưu giỏi trị nước”.

Năm thứ 7 (1808), Bắc Thành tứ trấn trộm giặc nổi dậy như ong, ông sai thuộc tướng chia đường tiến đánh, ở trong thành chỉ lưu lính vài trăm người, 2 thớt voi, và nói với bộ thuộc rằng chỉ bấy nhiêu quân voi xem giặc có dám đến không. Quan quân tiến đánh lớn nhỏ 36 trận mới dẹp yên được. Ông làm sách công trạng dâng lên vua, được thưởng 20.000 quan tiền.

Tuy văn võ toàn tài, có nhiều công trạng như vậy, nhưng Nguyễn Văn Thành cùng cả gia đình lại chịu kết cục bi thảm, nguyên nhân cũng bởi không biết chiều ý nhà vua.

Khi được triệu về kinh, do lỡ lời khi bình luận về việc chọn huyệt mộ cho vua Gia Long, vua bắt đầu không thích ông, sau này khi gặp chuyện của con trai là Nguyễn Văn Thuyên, vua mới đem các lời nói ấy ra để luận tội.

Khi Thừa Thiên Cao Hoàng hậu mất, vua muốn hoàng tử Đảm (sau là vua Minh Mạng) làm chủ tang (hoàng tử là con ruột của Thuận Thiên Cao Hoàng hậu họ Trần, chỉ là con nuôi Thừa Thiên Cao hoàng hậu họ Tống), Nguyễn Văn Thành đã ngăn cản. Ông muốn lập Hoàng tôn Đán, con hoàng thái tử Cảnh, lên làm thái tử, trong khi vua muốn lập hoàng tử Đảm, nên càng khiến nhà vua khó chịu.

Năm 1815, con của ông Nguyễn Văn Thành là Nguyễn Văn Thuyên, vì một bài thơ ý nghĩa mập mờ bị vu cho là có ý phản nghịch, bị môn hạ tố giác với quan Bộ Hình là Nguyễn Hữu Nghị, rồi tố cáo với Lê Văn Duyệt. Duyệt vốn có hiềm khích với Nguyễn Văn Thành, nên tố lên vua. Lúc đó, vua cho sự việc chưa rõ ràng, nên chưa xử.

Đến năm 1816, nhân việc nắm áo vua van nài xin xử lý rõ ràng sự việc bị quần thần hãm hại, Nguyễn Văn Thành mới bị vua ghét, cấm vào chầu. Vua giao Lê Văn Duyệt tra tấn Thuyên, Thuyên sợ phải nhận tội, cha cũng phải nhận tội theo. Vua nghĩ Nguyễn Văn Thành là đại thần, thu ấn cho về ở nhà riêng. Năm sau, ông lại bị hậu duệ vua Lê là Diên tự công Lê Duy Hoán vu cha con Nguyễn Văn Thành rủ mưu phản, nên bị nhốt vào ngục, rồi uống thuốc độc tự tử, thọ 60 tuổi.

Lúc này vua mới xem tớ biểu trần tình của Nguyễn Văn Thành để lại mà khóc, tha cho các con, cho tiền lụa hậu để an táng.

Mãi đến khi vua Tự Đức lên ngôi (1847), vua mới xuống chiếu rửa tội cho Nguyễn Văn Thành để khuyến khích người có công.

Lăng mộ của Nguyễn Văn Thành ở Thủy Phương, huyện Hương Thủy, Thừa Thiên - Huế, tuy không đồ sộ nhưng vẫn giữ được những nét hoa văn chạm trổ tinh xảo.

Lê Tiên Long

(VnExpress 10/2016)

Những phụ nữ uy quyền trong lịch sử Việt Nam

Ngoài những nữ vương như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Nguyên Phi Ỷ Lan sử Việt cũng ghi nhận nhiều phụ nữ có quyền uy ảnh hưởng bậc đế vương.
Đứng đầu danh sách phải kể đến Linh Từ Quốc mẫu Trần Thị Dung, hoàng hậu của vua Lý Huệ Tông và mẹ của nữ vương Lý Chiêu Hoàng, đồng thời là mẹ vợ vua Trần Thái Tông. Được gả cho Lý Huệ Tông khi ông chạy loạn từ kinh thành về Thái Bình nương náu ở nhà cha bà là Trần Lý, bà đóng vai trò quan trọng cùng người anh họ Trần Thủ Độ trong sự biến cung đình, đưa Trần Cảnh lên ngôi vua, mở đầu triều đại nhà Trần.


Từ khi nhà Trần nắm quyền bà thể hiện vai trò ngày càng rõ rệt. Trong sự kiện An Sinh Vương Trần Liễu nổi loạn khi bị Trần Thái Tông cưỡng đoạt người vợ đang mang thai là công chúa Thuận Thiên, bà Trần Thị Dung đã đứng ra thu xếp (cả Trần Liễu và vua Thái Tông đều là con rể của bà). Nhờ đó Trần Liễu bảo toàn được tính mạng và được cấp đất ở vùng Đông Triều, Quảng Ninh.

Sử gia Ngô Sỹ Liên, trong Đại Việt Sử ký toàn thư, tuy chê trách bà về việc lấy Lý Huệ Tông rồi lại lấy Trần Thủ Độ, nhưng cũng phải khen ngợi: "An Sinh Vương có hiềm khích với Thái Tông, nhưng Linh Từ đã ra sức hòa giải, nhờ đó mà anh em lại tình nghĩa như xưa".

Năm 1257, khi quân Mông Cổ xâm lược nước ta lần thứ nhất, vua quan nhà Trần đã rút sau trận Bình Lệ Nguyên, Toàn thư (Bản kỷ, quyển 5), chép: "Khi người Nguyên men theo đường tắt để vào cướp nước ta, kinh thành thất thủ, Linh Từ ở Hoàng Giang, lo giữ gìn các hoàng tử, cung phi và công chúa cùng vợ con tướng soái, không để ai bị lọt vào tay giặc. Bà lại còn khám xét thuyền các nhà có giấu binh khí, thu để đưa dùng vào việc quân. Công của bà giúp nội trị nhà Trần nhiều hơn là báo đáp nhà Lý. Thế mới biết trời sinh ra bà Linh Từ là để mở mang cơ nghiệp cho nhà Trần vậy".

Là vợ của Thái sư Trần Thủ Độ, tuy quyền uy lớn như vậy, bà cũng không vì thế mà lạm quyền, tư lợi. Khi muốn xin cho một người cháu làm chức câu đương (quan thu thuế cấp thấp ở xã), bà vẫn phải nhờ riêng Trần Thủ Độ. Tuy nhiên, vị Thái sư đã rất công chính khi gọi người cháu đến, tuyên bố: "Ngươi vì có Linh Từ quốc mẫu xin cho mới được làm câu đương, không thể ví như những câu đương khác. Vì thế phải chặt một ngón chân để phân biệt". Người cháu kêu van xin thôi, mãi mới được tha. Từ đó không ai dám lợi dụng tình thân mà xin xỏ việc riêng nữa.

Đến thời Lê, Tuyên Từ Hoàng hậu Nguyễn Thị Anh, mẹ vua Lê Nhân Tông mới thật sự một người phụ nữ quyền thế bao trùm cả triều đình. Bà là Hoàng thái hậu đầu tiên và duy nhất của nhà Hậu Lê thực hiện buông rèm nhiếp chính. Con trai bà, thái tử Bang Cơ, được đưa lên làm vua (Lê Nhân Tông) khi mới 2 tuổi sau sự kiện Lệ Chi Viên (1442), vua Lê Thái Tông đột ngột qua đời.

Tuyên từ Thái hậu Nguyễn Thị Anh quê ở làng Bố Vệ, nay thuộc thành phố Thanh Hóa, được vua Lê Thái Tông đưa vào cung phong làm Thần phi. Bà may mắn có được vị trí quyền uy bậc nhất khi mẹ của Thái tử Lê Nghi Dân là Dương Thị Bí sinh kiêu căng, khiến nhà vua phế bỏ vị trí Thái tử, phế Dương phi xuống làm dân thường rồi chuyển ngôi Thái tử cho Bang Cơ.

Khoảng 11 năm nhiếp chính, bà thể hiện quyền lực ghê gớm, như giết hại các công thần gồm cha con Thái úy Trịnh Khả, cha con Tư khấu Trịnh Khắc Phục. Tuy nhiên, bà cũng làm được một số điều có lợi cho dân như đào sông Bình Lỗ ở Thái Nguyên, đem lại thuận lợi cho giao thông. Sử thần Phan Phu Tiên đánh giá, thời kỳ bà coi chính sự cũng như thời vua Nhân Tông đích thân nắm quyền sau đó, thiên hạ thái bình, an cư lạc nghiệp.

Dù vậy, thời đại êm ấm của bà và vua Nhân Tông cũng chỉ kéo dài 17 năm và kết thúc bi thảm năm 1459. Lê Nghi Dân dẫn quân lẻn vào cung cấm, giết chết cả vua và Hoàng Thái hậu.

Trong khi đó, nổi tiếng về sự nghiêm khắc dạy con là Nghi Thiên Thái Hoàng thái hậu triều Nguyễn (Thái hậu Từ Dụ). Bà là chính thất của vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức. Tên thời con gái là Phạm Thị Hằng, sinh năm 1810 tại huyện Tân Hòa, Gia Định (nay là thị xã Gò Công tỉnh Tiền Giang). Bà được ca ngợi về đức hạnh và tính tiết kiệm cũng như uy quyền trong gia đình mà vua Tự Đức luôn phải kính nể và nhất mực nghe lời.

Truyện về nhà Nguyễn kể rằng, có lần Tự Đức mải mê đi săn trong rừng Thuận Trực, gặp nước lụt chưa thể về cung trong khi 2 ngày nữa là giỗ vua cha Thiệu Trị, Thái hậu sốt ruột phải cử đại thần Nguyễn Tri Phương đưa thuyền đi đón.

Về đến Hoàng cung, vua Tự Đức vội vàng lên kiệu trần đến cung Diên Thọ dù trời đang mưa, nằm phục dưới thềm, đặt chiếc roi lên mâm son chờ Hoàng thái hậu Từ Dụ đòn phạt. Tuy sau đó Thái hậu nguôi giận, không phạt roi vua, nhưng chuyện này đã được dựng thành tích cải lương "Tự Đức dâng roi", thể hiện tấm lòng hiếu nghĩa của người con ngay cả khi giữ vị trí cai trị quân dân cả nước.

Bà từng răn dạy vua Tự Đức: “Biết lỗi với ta chỉ là phụ, biết lỗi với dân mới là chính”. Nghe lời dạy bảo của bà, Tự Đức không chỉ là vị vua chí hiếu, mà luôn thể hiện tinh thần yêu nước và rất siêng năng việc triều chính.

Lê Tiên Long

(VnExpress 20/10/2016)